Hiển thị các bài đăng có nhãn ĐÔNG Y TRỊ BỆNH. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn ĐÔNG Y TRỊ BỆNH. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 23 tháng 2, 2016

Hoàng liên trị mụn nhọt, lỵ

Hoàng liên còn gọi hoàng liên chân gà, xuyên liên, tên khoa học là Rhizoma Coptidis. Hoàng liên là phần thân rễ ở dưới đất của cây hoàng liên (Coptis sp.). Cây mọc hoang ở vùng núi cao Hoàng Liên Sơn (SaPa). Hoàng liên chứa alcaloid... và các chất vô cơ (Zn, Cu, Mn, Se...) vị đắng, tính hàn; vào các kinh tâm, phế, can, thận, vị và đại tràng, hoàng liên có tác dụng thanh nhiệt táo thấp (thanh nhiệt ở tim tốt nhất), tả hỏa, giải độc. Trị các chứng thấp nhiệt hạ lỵ, nôn, vị hỏa đau răng, chứng tiêu khát, can hỏa sườn đau, tâm hỏa phiền táo, khó ngủ, mê man nói sảng, thổ huyết, nục huyết, hạ huyết, ung nhọt sang độc, tai mắt sưng đau. Liều dùng: 2g - 12g.
Hoàng liên là vị rất đắng và rất hàn, dùng liều lượng nhỏ có tác dụng kiện vị, trợ tiêu hóa, dùng nhiều quá thì làm hư dạ dày vì đắng hàn làm cho tiêu hóa kém đi. Khi sao với rượu, có tác dụng thanh trừ hỏa nhiệt ở phần trên. Sao với nước gừng, tăng cường hiệu quả chống nôn. Sao với nước ngô thù du, có tác dụng tả hỏa nhiệt ở gan mật.
Hoàng liên thanh nhiệt tả hỏa, giải độc, trị mụn nhọt, lỵ do thấp nhiệt.
Một số cách dùng hoàng liên trị bệnh:
Tả tâm hỏa, phiền táo:
Bài 1: Thang tả tâm: hoàng liên 8g, hoàng cầm 12g, đại hoàng 16g. Sắc uống. Trị tà hỏa nung nấu bức huyết vong hành, chảy máu cam, tiểu tiện bí, đái đỏ; thấp nhiệt tiềm tàng, trong ngực nóng bứt rứt đầy tức, rêu lưỡi vàng dày, mắt đỏ sưng tấy, miệng lưỡi phát nhọt và lên mụn đinh, nóng bứt rứt trong tim, trong ngực, tiểu tiện bí.
Bài 2: Thang hoàng liên a giao: hoàng liên 3g, a giao 8g, lòng đỏ trứng gà 1 cái, thược dược 12g, hoàng cầm 8g. Sắc nước pha uống. Trị các bệnh nhiệt, nhiệt thừa không hết, tim hồi hộp không ngủ.
Giải độc, trị nhọt:
Bài 1: Thang hoàng liên giải độc: hoàng liên 8g, hoàng bá 8g, hoàng cầm 8g, chi tử 12g. Sắc uống. Dùng cho trường hợp nhiệt độc phát nhọt.
Bài 2: Hoàng liên 8g, thạch xương bồ 4g. Sắc uống. Trị họng miệng sưng nhọt.
Mát ruột, trị lỵ: dùng với chứng tiết tả do thấp nhiệt ở ruột và dạ dày, đi lỵ ra máu mủ, mót rặn.
Bài 1: hoàng liên 12g, nghiền thành bột mịn, chia uống làm 3 lần trong ngày, uống với nước.
Bài 2: hoàng liên 4g, hoàng bá 12g, bạch đầu ông12g, tần bì 12g, cát căn 12g, mộc hương 8g. Sắc uống. Trị lỵ trực trùng cấp, sốt cao, đái ra máu mủ.
Bài 3: Hoàn hương liên: hoàng liên 125g, mộc hương 20g. Các vị nghiền thành bột, làm hoàn. Ngày uống 2 - 3 lần, mỗi lần 4g - 8g, uống với nước.
Mát gan, sáng mắt: dùng trong trường hợp tích tụ thấp nhiệt ở gan mật, mắt đau sưng đỏ, chảy nước mắt, sợ ánh sáng.
Bài 1: hoàng liên cắt vụn 4g, hấp cơm, gạn lấy 4ml nước; trộn với sữa mẹ, đồng lượng. Nhỏ vào mắt, ngày 2 - 3 lần.
Bài 2: Hoàn hoàng liên thiên hoa phấn: hoàng liên 8g, thiên hoa phấn 12g, hoàng cầm 8g, chi tử 12g, cúc hoa 12g, xuyên khung 4g, bạc hà 4g, liên kiều 12g, hoàng bá 8g. Sắc uống.
Mát dạ, cầm mửa: dùng cho trường hợp dạ dày nhiệt, nôn nước đắng và nước chua.
Bài 1: hoàng liên 3g, tô diệp 3g. Sắc uống. Trị dạ dày nóng gây nôn, phụ nữ có thai bị nôn.
Bài 2: Hoàn tả kim: hoàng liên 6 phần, ngô thù du 1 phần. Các vị nghiền thành bột làm hoàn. Ngày uống 2 lần, mỗi lần 4g, uống với nước ấm. Trị nôn ra nước chua, đau cạnh sườn.
Kiêng kỵ: Người nóng bứt rứt do âm hư, người tỳ hư, tiêu chảy kiêng dùng.


Toả dương - Thuốc bổ ngày xuân


Vào mùa hoa toả dương nở, cũng là dịp Tết Nguyên đán, nhân dân ở các vùng miền núi thường đi thu hái cây toả dương về rửa sạch, thái mỏng, sao khô để ngâm rượu làm thuốc bổ.

Tỏa dương.
Toả dương có tên là củ gió đất, củ ngọt núi, hoa đất, cây không lá, xà cô, là loại cây có hình dạng như cây nấm, màu đỏ nâu sẫm, được cấu tạo bởi cán hoa lớn, trên mang hoa dày đặc, có mo bao bọc, màu tím, có mùi hôi. Cán hoa nạc và mềm, sần sùi, không có lá. Hoa đực và hoa cái riêng. Cụm hoa đực hình trụ, dài 10-15cm. Cụm hoa cái hình đầu, dài 2-3cm. Toả dương thường mọc và sống ký sinh trên rễ những cây gỗ lớn trong rừng sâu ẩm thấp... ở các vùng rừng núi Hoà Bình, Lào Cai, Yên Bái,...
Tỏa dương thường được dùng làm thuốc bổ máu, bổ thận, kích thích ăn ngon miệng, chữa nhức mỏi chân tay, chữa đau lưng mỏi gối, di tinh, liệt dương, phục hồi sức khoẻ cho phụ nữ sau khi sinh,...
Một số bài thuốc có vị tỏa dương:
Chữa liệt dương: Toả dương 12g, thục địa 15g, sơn thù nhục 15g, sơn dược 15g, phục linh 12g, câu kỷ 15g, nhục thung dung 12g, dâm dương hoắc diệp 30g, ba kích nhục 12g, bạch nhân sâm 12g, lộc nhung 6g, sao táo nhân 12g, thỏ ti tử 12g, thiên môn đông 9g, cam thảo 9g. Tất cả đem tán mịn trộn mật làm thành viên, mỗi viên nặng 9g. Mỗi ngày uống 3 lần, mỗi lần 1 viên, uống với nước đun sôi để nguội. Kiêng ăn thức ăn tanh, lạnh.
Món ăn, bài thuốc hỗ trợ tráng dương: Toả dương 5g, nhục thung dung 5g, thịt dê 50g, bột mì 200g. Trước tiên sắc riêng toả dương và nhục thung dung, lấy nước thuốc này nhào với bột mì, cán mỏng, cắt thành sợi, cho vào nấu với thịt dê, nêm gia vị vừa miệng, làm thức ăn điểm tâm hằng ngày.
Hoạt tinh, di tinh, sinh lý yếu, mệt mỏi: Tỏa dương 120g, tang phiêu tiêu 120g, long cốt 40g, bạch phục linh 40g. Tất cả tán mịn, viên to bằng hạt ngô, mỗi lần uống 15-20g với nước muối loãng. Ngày uống hai lần.
Bổ thận, chữa đau lưng mỏi gối, các khớp đau nhức, đại tiện khô táo kết gây đau bụng: Tỏa dương, hoàng bá, quy bản, hoàng cầm, đỗ trọng, ngưu tất, tri mẫu, mỗi vị 16g; địa hoàng, đương quy, mỗi vị 10g; phá cố chỉ, tục đoạn, mỗi vị 8g. Tất cả các vị thuốc tán bột mịn, trộn đều với rượu và hồ hoàn thành viên, ngày uống 2 lần, mỗi lần 15-20g.

Đại táo
Bài thuốc bổ thận tráng dương (dùng cho người cao tuổi dương hư, thận suy, yếu mệt, liệt dương, di tinh kém ăn, mất ngủ): Toả dương 10g, nhân sâm 12g, hoàng kỳ 16g, đỗ trọng 16g, nhục thung dung 8g, thỏ ty tử 12g, xa sàng tử 12g, phúc bồn tử 12g, đương quy 12g, bạch truật 12g, thục địa 16g, ba kích 12g, dâm dương hoắc 12g, lộc nhung 12g, kỷ tử 12g, đại táo 5 quả, long nhãn 10g, cam thảo 6g, xuyên khung 8g, hà thủ ô đỏ 12g. Tất cả cho vào 750ml nước vào sắc kỹ còn 250ml chia 3 lần uống trong ngày. Uống 7 thang liền thì cơ thể sẽ khoẻ, ăn ngon, ngủ yên, dai sức hết mệt mỏi di tinh, liệt dương. Cùng bài thuốc trên với số lượng gấp 5 lần mỗi vị cho vào 5 lít rượu, ngâm trong 3 tuần, chắt ra, cho thêm 500ml mật ong loại tốt, mỗi ngày uống 3 lần trước bữa ăn, mỗi lần 20 - 30ml.
Chữa xuất tinh sớm: Thục địa 30g, tỏa dương 20g, đỗ trọng 30g, đuôi lợn 150g, gừng tươi 15g, đại táo 8 quả. Ðuôi lợn cạo bỏ lông, rửa sạch, chặt thành từng khúc. Gừng tươi giã nát. Các vị thuốc rửa sạch. Tất cả cho vào nồi hầm lửa nhỏ trong 2,5-3 giờ là được, cho thêm gia vị, chia ăn vài lần trong ngày. Bài thuốc có công dụng: Tư bổ thận tinh, dùng cho những người bị chứng xuất tinh sớm với các triệu chứng như xuất tinh sớm, tinh dịch ít và loãng, cơ thể hao gầy, suy giảm ham muốn tình dục, da mặt nhợt nhạt, tóc rụng nhiều, tiểu tiện trong dài, đại tiện lỏng loãng, chất lưỡi nhợt, thường có bệnh mạn tính kèm theo như tiểu đường, u phì đại tiền liệt tuyến mạn tính, suy giảm công năng tuyến thượng thận...
Xuất tinh sớm và liệt dương: Toả dương 20g, tang thầm (quả dâu tằm chín đen) 20g. Hai thứ tán nhỏ, hãm trong phích nước sôi với 10g mật ong. Sau 15 phút là uống được. Uống thay nước trà hàng ngày. Chú ý, người bị tiêu chảy không nên dùng loại nước này.
Phục hồi sức khoẻ cho phụ nữ sau khi sinh: Toả dương sau khi thu hái về, tước bỏ những phiến của lá bắc và bao hoa, rửa sạch, thái mỏng, phơi khô, sao qua, rượu 35 - 40 độ. Cứ 1 phần toả dương, 5 phần rượu. Ngâm trên 1 tháng mới dùng được, hoặc càng lâu càng tốt. Khi đó rượu có màu đỏ sẫm, vị hơi đắng, chát. Nếu khó uống có thể cho thêm ít đường hoặc mật ong cho dễ uống. Ngày uống 2 lần trước bữa ăn, mỗi lần uống 1 chén con (khoảng 30ml) .
Bác sĩ Thu Vân



Thứ Năm, 21 tháng 1, 2016

Ðinh lăng gai chống viêm

Đơn châu chấu còn gọi là đinh lăng gai, cây cẩm ràng, cây cuồng, cây răng. Cây mọc hoang phổ biến ở rừng trung du và miền núi. Về mặt hóa học và dược lý, rễ đơn châu chấu chứa saponin triterpenic mà phần genin đã được xác định là acid oleanic có tác dụng chống viêm mạnh ở cả giai đoạn cấp tính và mạn tính, nhất là giai đoạn viêm mạn tính. Dùng liều thích hợp dài ngày, cây không gây ảnh hưởng độc hại gì.
đinh lăng gai hay đơn châu chấu.
Bộ phận dùng làm thuốc là vỏ rễ. Tác dụng chống viêm thể hiện rõ nét ở những trường hợp sau:
Chữa sưng vú, áp-xe vú: vỏ rễ đơn châu chấu (tươi) 30g, rửa sạch, giã nhỏ với muối, trộn với ít nước vo gạo đặc, bọc trong một miếng vải sạch, hơ nóng, đắp và băng lại. Có thể phối hợp với rễ cây trôm (hay cây sảng) lá mua non, lá bồ công anh, lá kim ngân với liều lượng bằng nhau. Dùng 3-4 ngày.
Chữa ho lâu ngày, viêm họng, viêm amidan: vỏ rễ đơn châu chấu 30g, vỏ cây khế chua 20g thái nhỏ, sắc với 400ml nước còn 100ml, uống làm 2 lần trong ngày.
Chữa viêm nhiễm sưng tấy chưa thành mủ: lá non đơn châu chấu 20g rửa sạch giã nhỏ với ít muối, sao nóng, đắp lên vết thương.
Ngoài ra, vỏ rễ đơn châu chấu 12g phối hợp với rễ cây ngấy tía 8g, rễ cây han tía 8g. Sắc uống chữa hen.
Vỏ rễ đơn châu chấu 12g, rễ cây thóc lép 10g, lá cối xay 8g, sao vàng, sắc uống chữa phù thũng.


NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ
NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ
Gọi cho chúng tôi 0902233317

Sò huyết bổ ngũ tạng, trị viêm loét dạ dày tá tràng

Trong các loại sò, sò huyết chứa nhiều chất dinh dưỡng nhất, với nguồn chất đạm phong phú, ít mỡ, nhiều khoáng, sò huyết là món hải sản ngon, được nhiều người ưa thích. Thịt sò và vỏ sò đều được y học cổ truyền dùng làm thuốc.
Sò huyết bổ ngũ tạng, trị viêm loét dạ dày tá tràng 1
Sò huyết không những là loại hải sản ngon mà còn là vị thuốc bổ ngũ tang.
Theo Đông y, thịt sò huyết có vị ngọt, mặn, tính ấm, không độc, tác dụng bổ huyết, kiện vị, chứng huyết hư, thiếu máu, kiết lỵ ra máu mũi, viêm loét dạ dày tá tràng, tiêu hóa kém. Nướng sò huyết trên than hồng, thấy vỏ sò bung ra, có nước béo màu đỏ thì lấy thịt sò ăn nóng với gia vị. Hoặc lấy thịt sò phơi, sấy khô, tán nhỏ rây bột mịn rồi uống mỗi lần 2 - 4g, ngày 2 - 3 lần. Vỏ sò vị ngọt, mặn, tính hơi lạnh, trị viêm loét dạ dày tá tràng, tiêu hóa kém, đại tiện ra máu, cam răng. Cách làm bột vỏ sò: vỏ sò đã lấy hết thịt, rửa sạch, đập vụn cho vào nồi đất trát kín, nung đến khi đỏ hồng. Lấy ra để nguội, tán nhỏ, rây bột mịn, hoặc nhúng ngay vỏ sò đang hồng vào giấm với tỷ lệ 1kg vỏ sò với 100ml giấm rồi mới tán bột mịn.
Một số cách dùng sò huyết chữa bệnh
Bồi dưỡng cơ thể suy nhược, lao phổi, thanh nhiệt: thịt sò huyết 100g,  lá hẹ 100g  ninh nhừ, ăn 2 lần trong ngày.
Chữa tăng huyết áp, bệnh béo phì: thịt sò huyết 100g, thảo quyết minh 100g, nước vừa đủ nấu chín, ăn trong ngày.
Chữa kinh nguyệt ra quá nhiều: thịt sò huyết 100g nấu với thịt lợn 100g, ăn trước khi hành kinh.
Chữa dạ dày ợ chua, tiêu tích, hóa đàm: uống bột vỏ sò 12 - 20g/1 lần với nước ấm, ngày 2 lần trước bữa cơm.
Chữa đại tiện ra máu: ngày dùng bột vỏ sò 2 lần, mỗi lần 15g, uống với nước ấm.
Chữa cam răng: uống bột vỏ sò ngày 3 lần: sáng, trưa, tối, mỗi lần 1 thìa cà phê.
Chữa tụ máu, bầm tím: ngày uống bột vỏ sò 2 lần sáng và tối, mỗi lần 1 thìa canh, uống với nước ấm, có thể hòa tí rượu trắng uống giúp thuốc chuyển vận nhanh.
Lương y Minh Chánh


NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ
NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ
Gọi cho chúng tôi 0902233317

Mẫu đơn bì lương huyết, giảm đau

Không chỉ là cây cảnh đẹp, mẫu đơn còn là dược liệu quý trong y học cổ truyền. Bộ phận dùng làm thuốc là vỏ rễ của cây mẫu đơn được trồng từ 3 - 5 năm (còn gọi mẫu đơn bì).
Mẫu đơn có nguồn gốc từ Trung Quốc và Tây Tạng, được di thực vào nước ta trồng tại Sa Pa. Không chỉ là cây cảnh đẹp, mẫu đơn còn là dược liệu quý trong y học cổ truyền. Bộ phận dùng làm thuốc là vỏ rễ của cây mẫu đơn được trồng từ 3 - 5 năm (còn gọi mẫu đơn bì).
Theo Đông y, mẫu đơn có tính mát, vị cay ngọt đắng, chủ trị thanh nhiệt, mát huyết, tiêu ứ, hòa huyết, trị nhiệt vào phần huyết, phát ban, kinh giản, nôn, chảy máu cam, đại tiện ra máu, nóng trong xương, kinh bế, trưng hà, ung nhọt, lở loét, bị giập gãy xương, trúng phong co quắp, động kinh, đẹp nhan sắc, thông huyết mạch, tiêu máu ứ, trừ phong tý. Cách dùng: sắc uống 1 lần 10-12g hoặc làm hoàn, tán.
Mẫu đơn bì lương huyết, giảm đau 1
Cây mẫu đơn bì.

Cách dùng mẫu đơn bì làm thuốc
Trị thương hàn nhiệt độc phát lở loét như hạt đậu: mẫu đơn bì 10g, sơn chi tử 3g, hoàng cầm (bỏ lõi đen) 6g, đại hoàng sao 6g, ma hoàng (bỏ rễ và đốt) 6g. Tất cả tán nhỏ, mỗi lần dùng 5g sắc với 200ml nước, còn lại 100ml, bỏ bã, uống ấm.
Trị thương hàn và ôn bệnh, chảy máu cam, nôn ra máu không ngừng, mặt vàng, đại tiện phân đen: tê giác 40g, sinh địa 320g, bạch thược 120g, mẫu đơn bì 80g. Các vị cắt nhỏ, đổ 900ml nước sắc còn 300ml, chia uống 3 lần trong ngày.
Trị tăng huyết áp: mẫu đơn bì 60g, nước 400ml sắc còn 150ml, chia uống 3 lần trong ngày.
Trị viêm mũi dị ứng: mẫu đơn bì 100g, nước 300ml sắc còn 100ml, mỗi tối uống 50ml. Uống 10 ngày là một liệu trình.
Trị phụ nữ nóng trong xương, kinh mạch không thông, gầy yếu: mẫu đơn bì 60g, nhục quế 40g, mộc thông (cắt, sao) 40g, bạch thược 60g, miết giáp (nướng giấm) 80g, rễ khổ qua 60g, đào nhân 40g (bỏ vỏ, đầu nhọn, sao). Tất cả tán nhỏ. Mỗi lần lấy 5g nấu với 300ml nước còn 150ml, bỏ bã, chia 2 lần uống ấm.
Trị trường ung, bụng dưới sưng bĩ, đau phát sốt, ra mồ hôi trộm, sợ lạnh, mạch trì khẩn: đại hoàng 160g, mẫu đơn bì 40g, đào nhân 50 hạt, mang tiêu 30g. Đổ 600ml nước sắc còn 150ml, bỏ bã, cho mang tiêu vào, đun sôi lại, uống nóng.
Trị vùng hạ bộ lở loét như hang, rãnh; vết đâm lở loét bên trong, không ra máu: mẫu đơn bì tán nhỏ, ngày uống 3 lần, mỗi lần 1 thìa cà phê.
Chữa bìu sa sệ, bên to bên nhỏ: mẫu đơn bì, phòng phong lượng bằng nhau, nghiền nhỏ. Mỗi lần uống 8g với rượu.
Kiêng kỵ: người huyết hư có lạnh, phụ nữ có thai, kinh nguyệt quá nhiều cẩn thận khi dùng. Người ra mồ hôi trộm nhiều hoặc vị khí hư lạnh, tướng hỏa suy không dùng.

NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ
NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ
Gọi cho chúng tôi 0902233317

Cây ngô, vị thuốc đa năng

Hạt ngô rất giàu dinh dưỡng: protein, chất béo, chất đường; chất xơ, canxi, photpho, chất sắt, caroten, các vitamin...
Hạt ngô rất giàu dinh dưỡng: protein, chất béo, chất đường; chất xơ, canxi, photpho, chất sắt, caroten, các vitamin... Không chỉ là nguồn lương thực giúp chế độ dinh dưỡng hoàn chỉnh hơn, nó còn có vai trò phòng chữa nhiều bệnh: tim mạch (tăng huyết áp, mỡ máu cao, xơ cứng mạch); bệnh thận (viêm thận, phù nề); bệnh tiêu hóa; chống lão hóa... Dưới đây xin giới thiệu một số cách chữa bệnh đơn giản từ ngô.
Bướu cổ đơn thuần và sốt rét: Ăn ngô hằng ngày hoặc nấu canh ngô với cải xoong càng làm tăng lượng iốt (cải xoong mọc ven suối). Ăn ngô cũng có nhiều ích lợi trong phòng chữa sốt rét (trừ đàm).
Chữa đái tháo đường: 1 lạng râu ngô, 1 cái tụy lợn nấu canh ăn.
Bệnh tim mạch:
Râu ngô nấu tim heo: râu ngô nấu lấy 1 bát to nước (bỏ bã râu) nấu canh với tim heo để ăn. Ăn một thời gian người bị bệnh sẽ thấy đỡ mệt tim và dễ thở hơn, ngủ ngon giấc hơn.
Uống nước luộc từ  râu, lõi, thân, cùi bắp của ngô đều lợi tiểu. Dùng tốt cho người tăng huyết áp.
Bệnh thận, bàng quang: tiểu tiện buốt, khó khăn, đỏ sẻn, sỏi thận, phù nề. Dùng râu ngô hoặc cùi ngô nấu nước uống.
Nước râu ngô giúp lợi tiểu, tốt cho người tăng huyết áp.
Bổ thận tráng dương:
Hạt ngô nguyên vỏ (không xay xát) rang cho thật vàng rồi nấu lấy nước uống thay trà hàng ngày. Hoặc lấy nước đó nấu với thịt bồ câu, bồ dục, ngẩu pín, sò... tác dụng càng mạnh.
Hạt ngô nấu xương heo: 1kg xương heo với 2 nắm ngô hạt (tỷ lệ 1kg/2 nắm) hầm cho nhừ. Chữa bất lực. Nếu muốn hiệu quả cao hơn (dẻo dai) thì uống kèm rượu thuốc gồm: nhục thung dung 150g, câu kỷ tử 200g, toàn quy 200g, sâm cao ly 200g, dâm dương hoắc 100g, đại táo 20 quả.
Ngoài tác dụng bổ thận tráng dương, món này có tác dụng đại bổ nguyên khí, giúp ăn ngon, ngủ tốt, lao động không mệt, da dẻ hồng hào, trẻ lâu. Món này nấu với cơm rượu giúp sản phụ có nhiều sữa nuôi con và sau đó ngực vẫn săn chắc. Nếu cho thêm đậu tương, đậu phộng (lạc) sẽ được dùng chữa đau lưng.
Bệnh tiêu hóa:
Bệnh gan mật - vàng da, có sỏi: râu ngô, nhân trần mỗi thứ 30g hãm hoặc sắc nước uống thay trà hàng ngày làm tăng tiết mật. Có thể dùng ruột cây ngô thay râu ngô.
Bệnh dạ dày - chứng ợ chua, đầy bụng không tiêu, sa dạ dày: ăn cháo ngô hạt, uống nước râu ngô. Không dùng cho người bị loét dạ dày.
Bệnh trẻ em:
Mùa hè trẻ hay nóng sốt, háo khát, quấy khóc, trẻ ho gà, ho khi bị sởi: Dùng râu ngô nấu nước cho trẻ uống.
Trẻ đái ít đỏ sẻn: lấy cùi ngô nấu nước uống. Có thể nấu cùng hạt ý dĩ.
Trẻ biếng ăn, tiêu chảy phân sống cho ăn cháo ngô non nấu với cà rốt, hoặc cháo ngô đậu trắng (bạch biển đậu).
Hỗ trợ điều trị ung thư dạ dày, tụy: Hạt ngô nghiền nhỏ 100g cho nước ninh nhừ thành cháo để ăn. Có tác dụng giảm đau.
Lưu ý: Bắp ngô non nên luộc không nướng và cũng không nên phết mỡ vì nướng sẽ thêm tác hại của mỡ cháy.
Ngô mốc phải bỏ đi không ăn vì có thể gây ung thư.


NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ
NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ
Gọi cho chúng tôi 0902233317

Khoai tây - Thuốc quý, chữa nhiều bệnh

Khoai tây có tên khoa học là Solanum tuberosum L., khoai tây chủ yếu được dùng làm lương thực, chế tinh bột dùng trong lương thực, công nghiệp chế cồn, hồ giấy, hồ vải, công nghiệp dược phẩm.
Khoai tây có tên khoa học là Solanum tuberosum L., khoai tây chủ yếu được dùng làm lương thực, chế tinh bột dùng trong lương thực, công nghiệp chế cồn, hồ giấy, hồ vải, công nghiệp dược phẩm.
Một số nước trên thế giới đã dùng khoai tây để chữa một số bệnh về tim mạch và tiêu hóa có kết quả như ở Nga, Ailen, Thụy Điển, Mỹ.
Khoai tây chữa một số bệnh sau đây:
- Sốt do say nắng: Dùng củ giã đắp hai bên thái dương và trán (kinh nghiệm Tuynidi).
- Đau tim: luộc củ ăn thường xuyên (kinh nghiệm dân gian Nga).
Một nhà nghiên cứu ở Ailen và Boston nghiệm thấy chế độ ăn nhiều khoai tây thì tỷ lệ bệnh tim là 29%, trong khi chế độ ăn  không có khoai tây tỷ lệ bệnh tim là 42%.
- Tăng huyết áp: hoa khoai tây sắc uống thay trà.
- Nhồi máu cơ tim: tăng khoai tây trong khẩu phần ăn sẽ giảm được lượng cholesterol có hại trong máu, phòng được nhồi máu cơ tim, đồng thời giảm được nồng độ kali trong máu vốn là nguyên nhân góp phần làm nghẽn mạch.
- Dạ dày nhiều dịch vị chua, ruột kém nhu động:
Dùng củ khoai tây ép lấy nước uống thường xuyên.
- Viêm dạ dày tá tràng; giải độc tiêu hóa: Bột khoai tây pha uống, hoặc liên tục ăn khoai tây cả vỏ.
- Đau bụng: vỏ củ khoai tây 10g. Sắc uống.
- Nhiễm khuẩn đường hô hấp: xông, hít hơi khoai tây luộc.
- Bệnh trầm cảm: ăn nhiều khoai tây kích thích cơ thể tiết ra nhiều insulin và đưa tryptophan lên não dẫn đến tạo ra nhiều seretonin ức chế trầm cảm lo âu. Qua nghiên cứu tiến hành ở Thụy Điển và Mỹ phát hiện thấy những người tự tử là những người mắc chứng trầm cảm có hàm lượng seretonin ở não rất thấp.
- Bỏng, eczema, chấn thương: củ khoai tây cắt lát dán, đắp.
- Béo phì: ăn khoai tây 8 tuần liền, người béo phì có thể hạ tới 7kg thể trạng.
Lương y Minh Chánh

NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ
NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ
Gọi cho chúng tôi 0902233317

Thứ Hai, 18 tháng 1, 2016

Trứng cút - Thuốc bổ quý

Chim cút được tôn là sâm động vật, vì vậy người ta cũng đã kiểm nghiệm thấy trứng chim cút rất giàu dinh dưỡng hơn cả trứng gà vịt, đặc biệt loại trứng cút lộn lại tuyệt vời.
Theo Đông y, trứng chim cút bổ ngũ tạng, bổ trung ích khí, dùng bồi dưỡng sức khoẻ rất tốt, nhất là đối với những trường hợp sau khi bị bệnh lâu ngày khí huyết hư nhược, tiêu hoá kém và chị em phụ nữ sau khi sinh con cơ thể bị suy yếu hẳn.
Thêm vào đó, trứng cút cũng rất giàu chất các chất như đồng, coban, niacin và các axit amin thiết yếu. Tyrosine là loại dưỡng chất có khả năng làm cho da khoẻ mạnh. Vì thế, trứng chim cút còn được sử dụng cả trong ngành công nghiệp sản xuất mỹ phẩm. Nồng độ lecithin cao trong trứng cũng có tác dụng làm giảm lượng cholesterol trong máu. Còn các nhà khoa học Bungari thì cho rằng, hàm lượng phốt pho trong trứng còn cho hiệu quả cao hơn cả thuốc viagra. Trứng cút cũng là một loại thực phẩm có tính kháng khuẩn. Nếu bạn thường xuyên bị cảm lạnh thì các nhà khoa học khuyên bạn nên ăn trứng cút vào mỗi sáng.
Trứng cút được dùng cho những người bị thiếu máu, nhức đầu nặng, hen phế quản, viêm dạ dày. Normalizes trong trứng cũng tốt cho huyết áp và cải thiện tiêu hoá. Bởi vậy thực phẩm này rất có ích cho trẻ em, những người ốm yếu và phụ nữ mang thai. Không giống với trứng gà, trứng cút không có khả năng gây dị ứng. Ngược lại, một số loại protein trong trứng cút có thể ngăn ngừa dị ứng nên trên cơ sở này người ta còn sản xuất thuốc để điều trị dị ứng.
Những kết quả nghiên cứu gần đây còn cho biết, trứng chim cút có tác dụng làm tăng sức đề kháng với phóng xạ và góp phần loại bỏ các nuclit phóng xạ. Vì vậy, nhiều thầy thuốc đã khuyên nên bổ sung trứng chim cút trong thực đơn cho những bệnh nhân bị nhiễm xạ và những người sinh sống ở những vùng sinh thái bất lợi như các thành phố lớn, nơi mức độ bức xạ thường cao hơn.
Dưới đây là một số phương thuốc có công hiệu trị liệu  dùng trứng cút.
Dùng cho phụ nữ sau khi sinh con sức khoẻ suy yếu và những người vừa khỏi một bệnh nặng, cơ thể suy nhược: Hầm trứng chim cút với đảng sâm, đương quy, đại táo: Dùng trứng chim cút 3 quả, đảng sâm 15g, đương quy 12g, đại táo 10 quả. Hầm nhừ các vị, ăn trong nhiều ngày sẽ giúp sức khoẻ sẽ phục hồi nhanh chóng.
Trẻ em suy dinh dưỡng và những người cơ thể suy yếu: Cháo trứng cút nấu với gạo tẻ hay gạo nếp ngon thành cháo hoa. Hằng ngày vào buổi sáng hoặc tối ăn một bát. Ăn cháo nóng với 2 quả trứng cút. trong nhiều ngày sẽ có kết quả tốt.
Bồi bổ can thận, dùng chữa bệnh liệt dương do can thận hư: Dùng món trứng chim cút với câu kỷ tử và thỏ ty tử. Lấy 10 quả trứng cút, luộc chín, bóc vỏ. Cho 15g câu kỷ tử, 15g thỏ ty tử vào nồi cùng 10 quả trứng cút đã bóc vỏ, thêm 400ml nước, đun sôi trong 20 phút. Lấy trứng chim cút ăn và chắt nước uống. Chữa bệnh liệt dương do can thận hư có hiệu quả tốt.
BS.  Hoàng Xuân Đại

NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ
NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ
Gọi cho chúng tôi 0902233317

 
Design by Free WordPress Themes | Bloggerized by Lasantha - Premium Blogger Themes | Laundry Detergent Coupons