Hiển thị các bài đăng có nhãn BÀI THUỐC ĐÔNG Y. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn BÀI THUỐC ĐÔNG Y. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 21 tháng 1, 2016

Sò huyết bổ ngũ tạng, trị viêm loét dạ dày tá tràng

Trong các loại sò, sò huyết chứa nhiều chất dinh dưỡng nhất, với nguồn chất đạm phong phú, ít mỡ, nhiều khoáng, sò huyết là món hải sản ngon, được nhiều người ưa thích. Thịt sò và vỏ sò đều được y học cổ truyền dùng làm thuốc.
Sò huyết bổ ngũ tạng, trị viêm loét dạ dày tá tràng 1
Sò huyết không những là loại hải sản ngon mà còn là vị thuốc bổ ngũ tang.
Theo Đông y, thịt sò huyết có vị ngọt, mặn, tính ấm, không độc, tác dụng bổ huyết, kiện vị, chứng huyết hư, thiếu máu, kiết lỵ ra máu mũi, viêm loét dạ dày tá tràng, tiêu hóa kém. Nướng sò huyết trên than hồng, thấy vỏ sò bung ra, có nước béo màu đỏ thì lấy thịt sò ăn nóng với gia vị. Hoặc lấy thịt sò phơi, sấy khô, tán nhỏ rây bột mịn rồi uống mỗi lần 2 - 4g, ngày 2 - 3 lần. Vỏ sò vị ngọt, mặn, tính hơi lạnh, trị viêm loét dạ dày tá tràng, tiêu hóa kém, đại tiện ra máu, cam răng. Cách làm bột vỏ sò: vỏ sò đã lấy hết thịt, rửa sạch, đập vụn cho vào nồi đất trát kín, nung đến khi đỏ hồng. Lấy ra để nguội, tán nhỏ, rây bột mịn, hoặc nhúng ngay vỏ sò đang hồng vào giấm với tỷ lệ 1kg vỏ sò với 100ml giấm rồi mới tán bột mịn.
Một số cách dùng sò huyết chữa bệnh
Bồi dưỡng cơ thể suy nhược, lao phổi, thanh nhiệt: thịt sò huyết 100g,  lá hẹ 100g  ninh nhừ, ăn 2 lần trong ngày.
Chữa tăng huyết áp, bệnh béo phì: thịt sò huyết 100g, thảo quyết minh 100g, nước vừa đủ nấu chín, ăn trong ngày.
Chữa kinh nguyệt ra quá nhiều: thịt sò huyết 100g nấu với thịt lợn 100g, ăn trước khi hành kinh.
Chữa dạ dày ợ chua, tiêu tích, hóa đàm: uống bột vỏ sò 12 - 20g/1 lần với nước ấm, ngày 2 lần trước bữa cơm.
Chữa đại tiện ra máu: ngày dùng bột vỏ sò 2 lần, mỗi lần 15g, uống với nước ấm.
Chữa cam răng: uống bột vỏ sò ngày 3 lần: sáng, trưa, tối, mỗi lần 1 thìa cà phê.
Chữa tụ máu, bầm tím: ngày uống bột vỏ sò 2 lần sáng và tối, mỗi lần 1 thìa canh, uống với nước ấm, có thể hòa tí rượu trắng uống giúp thuốc chuyển vận nhanh.
Lương y Minh Chánh


NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ
NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ
Gọi cho chúng tôi 0902233317

Khoai tây - Thuốc quý, chữa nhiều bệnh

Khoai tây có tên khoa học là Solanum tuberosum L., khoai tây chủ yếu được dùng làm lương thực, chế tinh bột dùng trong lương thực, công nghiệp chế cồn, hồ giấy, hồ vải, công nghiệp dược phẩm.
Khoai tây có tên khoa học là Solanum tuberosum L., khoai tây chủ yếu được dùng làm lương thực, chế tinh bột dùng trong lương thực, công nghiệp chế cồn, hồ giấy, hồ vải, công nghiệp dược phẩm.
Một số nước trên thế giới đã dùng khoai tây để chữa một số bệnh về tim mạch và tiêu hóa có kết quả như ở Nga, Ailen, Thụy Điển, Mỹ.
Khoai tây chữa một số bệnh sau đây:
- Sốt do say nắng: Dùng củ giã đắp hai bên thái dương và trán (kinh nghiệm Tuynidi).
- Đau tim: luộc củ ăn thường xuyên (kinh nghiệm dân gian Nga).
Một nhà nghiên cứu ở Ailen và Boston nghiệm thấy chế độ ăn nhiều khoai tây thì tỷ lệ bệnh tim là 29%, trong khi chế độ ăn  không có khoai tây tỷ lệ bệnh tim là 42%.
- Tăng huyết áp: hoa khoai tây sắc uống thay trà.
- Nhồi máu cơ tim: tăng khoai tây trong khẩu phần ăn sẽ giảm được lượng cholesterol có hại trong máu, phòng được nhồi máu cơ tim, đồng thời giảm được nồng độ kali trong máu vốn là nguyên nhân góp phần làm nghẽn mạch.
- Dạ dày nhiều dịch vị chua, ruột kém nhu động:
Dùng củ khoai tây ép lấy nước uống thường xuyên.
- Viêm dạ dày tá tràng; giải độc tiêu hóa: Bột khoai tây pha uống, hoặc liên tục ăn khoai tây cả vỏ.
- Đau bụng: vỏ củ khoai tây 10g. Sắc uống.
- Nhiễm khuẩn đường hô hấp: xông, hít hơi khoai tây luộc.
- Bệnh trầm cảm: ăn nhiều khoai tây kích thích cơ thể tiết ra nhiều insulin và đưa tryptophan lên não dẫn đến tạo ra nhiều seretonin ức chế trầm cảm lo âu. Qua nghiên cứu tiến hành ở Thụy Điển và Mỹ phát hiện thấy những người tự tử là những người mắc chứng trầm cảm có hàm lượng seretonin ở não rất thấp.
- Bỏng, eczema, chấn thương: củ khoai tây cắt lát dán, đắp.
- Béo phì: ăn khoai tây 8 tuần liền, người béo phì có thể hạ tới 7kg thể trạng.
Lương y Minh Chánh

NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ
NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ
Gọi cho chúng tôi 0902233317

Thứ Sáu, 25 tháng 12, 2015

Cây vòi voi có độc?

Cây vòi voi còn gọi là cẩu vĩ trùng, đại vĩ đạo. Tên khoa học là Heliotropium indicumL., gọi vòi voi vì cụm hoa của cây giống như hình vòi con voi. Theo sách Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam của cố giáo sư Đỗ Tất Lợi, vòi voi có hai tác dụng chủ yếu là chống viêm, giảm đau. Những năm 1961 - 1962, Bệnh viện Hải Dương đã dùng cao rượu vòi voi điều trị cho 856 bệnh nhân bị bong gân, tụ huyết sưng bầm do chấn thương, viêm tấy, chín mé, viêm hạch và đã đi tới một số kết luận:
- Cao rượu vòi voi có tác dụng với những trường hợp viêm hay cương tụ huyết chưa làm mủ. Chỉ cần đắp cao rượu vòi voi trong 3 - 4 ngày, đắp ướt liên tục.
Cây vòi voi.
- Nếu đã có mủ rồi, cao rượu vòi voi không có tác dụng làm tan mủ, nhưng cũng làm cho mủ không lan rộng hơn và làm bớt sưng tấy ở những vùng xung quanh ổ mủ.
- Sau khi chích mủ, nếu băng bằng cao rượu vòi voi, vết thương chóng lành và đỡ đau hơn là băng thường.
- Cao rượu vòi voi đắp lên chỗ sưng làm dịu đau ngay, bệnh nhân có cảm giác mát dịu, dễ chịu, không nhức nhối như khi chưa đắp thuốc.
- Chữa sưng tấy gối với những triệu chứng sau: trước phát bệnh mỏi đầu gối, 3 hôm sau vùng đầu gối đỏ và sưng to lên, người lên cơn sốt nhẹ, không đi lại được. Dùng cây tươi, chặt thành từng đoạn nhỏ, giã cho dập, bỏ vào nồi sao với dấm hoặc với rượu gói vào miếng vải, buộc vào chỗ sưng. Làm như vậy khi có kết quả thì ngừng.
Vòi voi là một vị thuốc chữa tê thấp viêm tấy, mụn nhọt, viêm họng, mẩn ngứa. Dùng trong hay đắp bên ngoài. Ngày uống 15 - 20g tươi. Có người còn dùng làm thuốc điều kinh nhưng liều quá cao có thể gây sảy thai.
Tuy nhiên, người ta phát hiện một số loài vòi voi như H.lariocarpum Fish et Mey chứa ancaloid có nhân pyrolizidinn rất độc đối với gan và gây hủy hoại tổ chức gan, đau bụng tiêu chảy, xuất huyết lan tỏa và có thể gây ung thư. Tính độc này thường không thể hiện ngay khi dùng, mà thường xuất hiện một cách âm ỉ, kéo dài, khó phát hiện. Vì vậy, Tổ chức Y tế thế giới khuyến cáo không nên dùng vòi voi làm thuốc và Bộ Y tế Việt Nam (năm 1985) cũng đã có chỉ thị cần thận trọng khi dùng vòi voi chữa bệnh, mặc dù chỉ dùng ngoài để đắp theo kinh nghiệm cổ truyền: trong các trường hợp tụ huyết bầm tím do chấn thương, viêm tấy áp-xe, sưng vù, sưng khớp, đinh nhọt giai đoạn chưa có mủ. Chú ý không nên dùng cho người già yếu và khi có kết quả nên ngừng ngay.
Từ những thông tin trên, lời khuyên với mọi người dù là thuốc từ cây lá cũng phải có chỉ định thận trọng của thầy thuốc.


NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ
NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ
Gọi cho chúng tôi 0902233317

Dây bạc thau lợi tiểu, điều kinh

Theo Đông y, bạc thau có vị đắng, cay, hơi chua, tính mát. Có tác dụng thanh nhiệt, lợi tiểu, thư cân hoạt lạc, khu phong trừ thấp, điều kinh, chỉ huyết (cầm máu), nhuận phế, tiêu đờm, chỉ khái (làm hết ho).
Theo Đông y, bạc thau có vị đắng, cay, hơi chua, tính mát. Có tác dụng thanh nhiệt, lợi tiểu, thư cân hoạt lạc, khu phong trừ thấp, điều kinh, chỉ huyết (cầm máu), nhuận phế, tiêu đờm, chỉ khái (làm hết ho). Trong dân gian, bà con thường làm thuốc chữa bí tiểu tiện, đái ít, rát buốt, nước tiểu đục, kinh nguyệt không đều, rong kinh, mụn nhọt lở ngứa, sốt rét, viêm khí quản cấp và mạn, ho.
Bạc thau còn có tên gọi khác như bạc sau, bạch hoa đằng, chấp miên, thảo bạc, người Tày gọi là pác túi. Là loại dây leo bò hoặc cuốn. Thân có lông tơ màu trắng bạc, sau nhẵn, vỏ thân màu nâu. Lá nguyên, mọc so le, phiến lá hình bầu dục hay trái xoan, mặt trên nhẵn màu xanh thẫm, mặt dưới có lông dày màu ánh bạc. Cụm hoa hình tán mọc ở kẽ lá, đài hoa hình chén có lông màu ánh bạc. Quả hình cầu, khi chín có màu đỏ, trong chứa 2-4 hạt màu nâu. Cây mọc các tỉnh phía Bắc, từ đèo Hải Vân trở ra. Mọc ở các bờ bụi, nhất là trên triền đồi núi đá vôi.
Dây bạc thau có tác dụng thanh nhiệt, lợi tiểu.

Một số bài thuốc chữa bệnh:
Bài 1: Chữa ho trẻ em: Lá bạc thau 6g, lá chua me 6g, lá xương sông 6g. Tất cả rửa sạch, để ráo nước, giã nát, vắt lấy nước cho trẻ uống (có thể thêm ít đường phèn cho dễ uống).
Bài 2: Chữa kinh nguyệt không đều: Lá bạc thau 10g, rễ xích đồng nam 10g, vỏ thân mía tía 10g, rễ cỏ tranh 10g, rễ móc diều, cỏ hàn the, lá huyết dụ, mỗi vị 8g. Phơi khô, cho vào ấm, đổ ngập nước, sắc nhỏ lửa, còn 300ml chia 3 lần uống trong ngày, uống trước chu kỳ kinh 15 ngày. Hoặc bạc thau 20g, rau dền gai 15g cho vào ấm, đổ 700ml nước, sắc nhỏ lửa, còn 300ml chia 3 lần uống trong ngày, uống trước chu kỳ kinh 15 ngày.
Bài 3: Chữa mẩn ngứa, rôm sảy: Lấy lá bạc thau nấu với nước để tắm, rửa rất hiệu nghiệm.
Bài 4: Chữa rong kinh, rong huyết: Có thể lấy lá bạc thau 20g, ngải cứu 20g, lá bạch đầu ông 20g. Rửa sạch, để ráo nước, giã nát, thêm chút nước vắt lấy nước để uống. Dùng liền 5 ngày. Theo Nam dược thần hiệu, lấy lá bạc thau 40g, rửa sạch, giã nát, thêm ít nước sôi để nguội, vắt lấy nước để uống. Bã đắp lên đỉnh đầu.
Bài 4: Giúp vết thương mau lành miệng: Lá bạc thau khô giã nhỏ mịn, rắc vào vết thương có tác dụng ngừng chảy nước vàng.
Bài 5: Chữa sưng tấy, ứ huyết do ngã, va đập: Lá bạc thau tươi 30g, lá xuyên tiêu 30g, lá dây đòn gánh 30g. Tất cả giã nát, cho vào chảo đảo nóng với ít rượu, đắp lên chỗ sưng đau. Ngày làm 1 lần. Hoặc lá bạc thau 10g, lá quýt rừng 10g. Sắc uống.
Bài 6: Chữa bạch đới do tỳ hư, can uất: Lá bạc thau, lá bấn (bạch đồng nữ), mỗi vị 30g tươi, giã vắt lấy nước cốt uống; hoặc dùng mỗi thứ 12g khô, sắc nước uống, chia ngày 3 lần, 10 ngày một liệu trình.


NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ
NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ

Gọi cho chúng tôi 0902233317



Thiên niên kiện trị bệnh xương khớp

Theo tài liệu cổ thiên niện kiện vị đắng, cay, hơi ngọt, tính ôn vào 2 kinh can và thận. Có tác dụng khử phong thấp, mạnh gân cốt. Dùng chữa phong thấp, khớp xương đau nhức, co quắp tê dại.
Thiên niên kiện,trị bệnh xương khớp,mạnh gân cốt,co quắp tê dại,đau dạ dày,đau khớp xương
Hỏi: Cây thuốc thiên niên kiện tại sao có tên như vậy? Nó có nhiều ở nước ta hay không?
(Lê Văn Tuấn - Tây Ninh)
Trả lời: Thiên niên kiện còn gọi là sơn thục.
Tên khoa học Homalomena aromatica (Roxb). Schott (Calla aromatica Roxb). Homalomena occubta (Iowa) Schott.
Thuộc họ Ráy Araceae.
Thiên niện kiện (Rhizoma Homalomenae) là thân rễ phơi hay sấy khô của cây thiên niện kiện.
Tên thiên niện kiện vì người ta cho rằng uống vị thuốc này thì nghìn năm khỏe mạnh (thiên là nghìn, niên là năm, kiện là khỏe mạnh).
Mô tả cây
Thiên niên kiện là một cây sống lâu năm, có thân rễ mập, màu xanh, đường kính 1 - 2cm. Lá mọc so le, có cuống dài từ 18 - 25cm, màu xanh, mềm, nhẵn, phía dưới cuống nở rộng thành bẹ có màu vàng nhạt, phiến lá hình đầu mũi tên, dài 11 - 15cm, rộng 7 - 11cm, đầu nhọn, phía dưới hình cánh tên, mép nguyên, mặt trên lá có màu đậm hơn hai mặt đều nhẵn, gân ở hai mép đều hướng về phía đỉnh là. Cụm hoa mẫm nở vào tháng 3 - 4. Quả mọng.
Phân bố, thu hái và chế biến
Thiên niên kiện mọc hoang rất nhiều ở các miền rừng núi của ta. Cây ưa những nơi ẩm ướt cạnh suối hay dọc theo suối. Ta khai thác quanh năm. Một năm có thể thu mua tới 3.000 tấn.
Hái về rửa sạch đất, bỏ rễ con, phơi hay sấy khô là được.
Công dụng và liều dùng
Theo tài liệu cổ thiên niện kiện vị đắng, cay, hơi ngọt, tính ôn vào 2 kinh can và thận. Có tác dụng khử phong thấp, mạnh gân cốt. Dùng chữa phong thấp, khớp xương đau nhức, co quắp tê dại.
Hiện nay thiên niên kiện là một vị thuốc nhân dân dùng chữa tê thấp, bổ gân cốt, giảm đau nhức dùng trong bệnh người già bị đau người, đau dạ dày, đau khớp xương. Kích thích giúp sự tiêu hóa. Ngày dùng 5 -10g dưới dạng thuốc sắc hoặc ngâm rượu.
Là nguyên liệu chế tinh dầu. Tinh dầu thiên niên kiện được dùng trong kỹ nghệ nước hoa và làm nguyên liệu chiết suất linalola.
Tên khoa học của thiên niên kiện  có thể chưa thật chính xác. Theo Phạm Hoàng Hộ (1970, Cây cỏ miền nam Việt Nam, 2: 726) thì những cây được Gagnepain mô tả dưới tên Homalomena aromatica trong Thực vật chí Đông Dương (tập 6: 1114) là thuộc loại Homalomena occulta (Lour.) Schott.


NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ
NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ
Gọi cho chúng tôi 0902233317

Huyết dụ - Thuốc cầm máu

Huyết dụ còn tên gọi là phật dụ, thiết thụ (trung dược), chổng đeng (Tày), co trướng lậu (Thái), quyền diên ái (Dao), có tên khoa học là cordyline terminalis kunth.

Cây huyết dụ.
Huyết dụ còn tên gọi là phật dụ, thiết thụ (trung dược), chổng đeng (Tày), co trướng lậu (Thái), quyền diên ái (Dao), có tên khoa học là cordyline terminalis kunth.
Có hai loại cây huyết dụ, loại lá đỏ cả hai mặt và loại lá đỏ một mặt còn mặt kia màu xanh. Cả hai loại đều được dùng làm thuốc, nhưng loại hai mặt đỏ tốt hơn.
Theo đông y, huyết dụ vị nhạt, tính mát, tác dụng làm mát máu, bổ huyết, cầm máu lại vừa làm tan máu ứ, giảm đau phong thấp nhức xương trị rong kinh, xích bạch đới, kiết lỵ, lậu, sốt xuất huyết, thổ huyết, ho ra máu, tiểu tiện ra máu.
Liều dùng trung bình 20 - 30g lá tươi, 8 - 16g lá khô cho các dạng thuốc sắc, có thể dùng riêng hoặc phối hợp với các vị thuốc khác.
Sau đây là những phương thuốc trị liệu có dùng huyết dụ:
Chữa chứng sốt xuất huyết (kể cả các xuất huyết dưới da): Lá huyết dụ tươi 30g, trắc bá sao đen 20g, cỏ nhọ nồi 20g. Sắc uống ngày 1 thang, chia 2 - 3 lần.
Chữa ho ra máu, chảy máu cam và chảy máu dưới da: Lá huyết dụ tươi 30g, trắc bá diệp sao cháy 20g, cỏ nhọ nồi 20g, sắc uống ngày 1 thang, chia 2 - 3 lần.
Chữa ho ra máu: Lá huyết dụ 10g, rễ rẻ quạt 8g, trắc bách diệp sao đen 4g, lá thài lài tía 4g, tất cả phơi khô, sắc uống ngày 1 thang, chia 2 - 3 lần.
Chữa các loại chảy máu (kể cả xuất huyết tử cung, tiêu chảy ra máu): Lá huyết dụ tươi 40 - 50g (nếu sử dụng lá khô, hoa khô lượng chỉ bằng nửa lá tươi), sắc uống ngày 1 thang, chia 2 - 3 lần. Không dùng cho phụ nữ sau khi nạo thai hoặc đẻ sót rau.
Chữa bạch đới, khí hư, lỵ, rong huyết, viêm dạ dày, viêm ruột, trĩ nội, hậu môn lở loét ra máu: Huyết dụ tươi 40g, lá sống đời (lá bỏng) 20g, xích đồng nam (lá băn) 20g, sắc uống ngày 1 thang, chia 2 - 3 lần.
Chữa vết thương hay phong thấp đau nhức: Dùng huyết dụ (cả lá, hoa, rễ) 30g, huyết giác 15g, sắc uống ngày 1 thang, chia 2 - 3 lần.
Chữa rong kinh, băng huyết: Lá huyết dụ tươi 20g, rễ cỏ tranh 10g, đài tồn tại của quả mướp 10g, rễ cỏ gừng 8g. Thái nhỏ cho 300ml nước sắc còn 100ml, chia 2 lần uống trong ngày.
Hoặc lá huyết dụ tươi 20g, cành tử tô 10g, hoa cau đực 10g, tóc một ít đốt thành than, thái nhỏ, trộn đều sao vàng rồi sắc uống ngày 1 thang, chia 2 - 3 lần.
Chữa đi tiểu ra máu: Lá huyết dụ tươi 20g, rễ cây rang 10g, lá lẩu 10g, lá cây muối 10g, lá tiết dê 10g. Tất cả rửa sạch để ráo nước, giã nát vắt lấy nước cốt uống.
Chữa kiết lỵ: Lá huyết dụ tươi 20g, cỏ nhọ nồi 12g, rau má 20g, giã nát cho vào chút nước vắt lấy nước cốt uống ngày 2 lần.


NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ
NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ
Gọi cho chúng tôi 0902233317

Cây hồng đằng chữa đau khớp

Theo y học cổ truyền, hồng đằng có vị đắng, tính ấm, có tác dụng bổ khí huyết, mạnh gân xương, chỉ thống, thông kinh hoạt lạc. Công dụng trị phong thấp, gân cốt đau, lưng đau, mỏi gối, chân tay tê bại, chân tay ra mồ hôi, thiếu máu, kinh nguyệt không đều, bế kinh...
Hồng đằng còn có tên khác là huyết rồng, kê huyết đằng, khan dạ lùa (Tày), là loại dây leo, thân gỗ to, hình tròn dẹt, có nhiều nhựa màu đỏ nâu. Thân và lá non có lông tơ mịn. Lá kép gồm 3 lá chét, lá giữa to hơn, cuống lá kép dài. Cụm hoa mọc ở kẽ lá thành chùm chùy. Quả đậu dẹt.
Cây mọc tự nhiên trong rừng ở miền núi phía Bắc. Bộ phận dùng làm thuốc là thân cây, thu hái quanh năm, thái phiến, phơi khô dùng dần.
Hồng đằng.
Một số đơn thuốc thường dùng
Chữa tê thấp, nhức mỏi gân xương: Hồng đằng 12g, cây mua núi 12g, rễ gối hạc 12g, rễ phòng kỷ 10g, vỏ thân ngũ gia bì chân chim 10g, dây đau xương 10g. Tất cả phơi khô, tán nhỏ, sắc với 400ml nước còn 100ml, uống làm 2 lần trong ngày.
Chữa  đau lưng, mỏi gối, đau các khớp chân, tay: Hồng đằng 16g, cẩu tích 12g, tục đoạn 12g, xuyên khung 12g, dây đau xương 12g. Sắc uống ngày 1 thang, chia 2-3 lần. Uống 7-10 ngày là một liệu trình.
Chữa đau dây thần kinh hông: Hồng đằng 20g, ngưu tất 12g, hồng hoa 12g, đào nhân 12g, nghệ vàng 12g, nhọ nồi 10g, cam thảo 4g. Sắc với 400ml nước còn 100ml, uống làm 2 lần trong ngày. Uống 7-10 ngày là một liệu trình.
Hỗ trợ điều trị viêm khớp dạng thấp: Hồng đằng, hy thiêm, thổ phục linh, rễ vòi voi mỗi vị 16g; ngưu tất, sinh địa mỗi vị 12g; nam độc lực, rễ cà gai leo, rễ cây cúc ảo, huyết dụ mỗi vị 10g. Sắc uống ngày 1 thang. Uống 7-10 ngày là một liệu trình.
Chữa thiếu máu, người mệt mỏi, hoa mắt chóng mặt: Hồng đằng 16g, hà thủ ô đỏ 12g, đương quy 12g, nhân sâm 10g, thục địa 12g, đan sâm 12g; sắc đặc, cô thành cao lỏng, ngày uống 1 thìa canh pha với rượu hoặc nước nóng để uống.
Chữa kinh nguyệt không đều: Hồng đằng 10g, tô mộc 5g, nghệ vàng 4g, sắc uống trong ngày. Hoặc: Hồng đằng 16g, nghệ vàng 6g, ngưu tất 10g, ích mẫu 12g sắc uống ngày một thang. Uống 7-10 ngày là một liệu trình.
Lưu ý: Không dùng cho phụ nữ có thai.


NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ
NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ
Gọi cho chúng tôi 0902233317

Cây seo gà chữa lỵ, đinh nhọt

Cây seo gà còn gọi là cỏ luồng, phượng vĩ thảo, phượng vĩ. Tên khoa học: Pteris multifida Poir., họ Seo gà: Pteridaceae. Seo gà mọc phổ biến ở miền Bắc và Trung bộ, trên vách đá, vách đất, quanh thành giếng, nơi thoáng ẩm và mát.

Cây seo gà.
Cây seo gà còn gọi là cỏ luồng, phượng vĩ thảo, phượng vĩ. Tên khoa học: Pteris multifida Poir., họ Seo gà: Pteridaceae. Seo gà mọc phổ biến ở miền Bắc và Trung bộ, trên vách đá, vách đất, quanh thành giếng, nơi thoáng ẩm và mát.
Theo Đông y, seo gà vị đắng ngọt nhạt và hơi đắng, tính lạnh, có tác dụng thanh nhiệt, tiêu viêm lợi tiểu, mát máu, cầm lỵ. Rễ có vị ngọt, đắng, hơi tê, mùi thơm hắc. Có tác dụng chữa viêm ruột, viêm đường tiết niệu, viêm tuyến nước bọt, lỵ amíp, lỵ trực khuẩn, viêm gan, trĩ chảy máu. Nước lá tươi có tác dụng chữa bỏng. Liều dùng: 15 - 30g seo gà khô (rễ và lá). Dùng ngoài không kể liều lượng.
Một số bài thuốc chữa bệnh từ cây seo gà:
Chữa kiết lỵ:
- Rễ và lá seo gà sao qua cho có mùi thơm, 40 - 60g sắc với 100 - 150ml nước. Đun sôi trong 30 phút. Gạn lấy nước, chia làm 2 lần uống trong ngày.
- Cây seo gà 24g, chè tươi 100g. Đun với 150ml nước trong 30 phút. Gạn lấy nước, chia làm 2 - 3 lần uống trong ngày.
- Seo gà 30g, vỏ sắn thuyền 12g, đậu đen rang cháy 20g. Sắc, chia uống 3 lần trong ngày.
- Seo gà 20g, dây mơ lông 20g, rễ cỏ tranh 20g, rễ phèn đen 20g, gừng sống 3 lát. Sắc uống, chia 2 - 3 lần trong ngày, uống lúc đói (Nam dược thần hiệu).
Chữa lỵ cấp tính:
- Rễ phèn đen 20g, dây mơ lông 20g, rễ seo gà 20g, rễ cỏ tranh 20g, gừng tươi 3 lát. Sắc uống ngày 1 thang.
- Rễ phèn đen 20g, rễ seo gà 20g, vỏ rụt 10g. Tất cả sao đen, sắc đặc. Ngày uống 1 thang.
- Trị xuất huyết: seo gà 60g, rễ cây duối 60g. Sắc uống trong ngày.
Dùng ngoài:
- Giã cây tươi để đắp, chữa viêm tuyến nước bọt, đinh nhọt, thấp chẩn.
- Nước sắc đặc seo gà để rửa mụn trĩ.
- Rễ và lá sao vàng thái nhỏ, đun trong dầu vừng, lọc bỏ rễ lá seo gà để lấy dầu thuốc. Thuốc dầu seo gà để bôi chữa một số bệnh ngoài da của trẻ em.


NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ
NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ
Gọi cho chúng tôi 0902233317

Kỳ hương - Vị thuốc quý

Kỳ hương hay còn gọi là kỳ nam, trầm hương hay gió bầu, tên khoa học là Aquilaria agallocha Roxb. (A. crassna Pierre). Thuộc họ trầm Thymelacaceae. Trầm hương (Lignum Aquilariae) là gỗ có nhiều điểm nhựa của cây trầm hương.
Kỳ hương hay còn gọi là kỳ nam, trầm hương hay gió bầu, tên khoa học là Aquilaria agallocha Roxb. (A. crassna Pierre). Thuộc họ trầm Thymelacaceae. Trầm hương (Lignum Aquilariae) là gỗ có nhiều điểm nhựa của cây trầm hương. Vì vị thuốc có mùi thơm, thả xuống nước chìm xuống, do đó có tên gọi như vậy (trầm là chìm). Tên kỳ nam (còn có tên kỳ nam hương) thường dành cho loại trầm quý nhất. Giá đắt gấp 10-20 lần trầm hương.
Kỳ hương được phân ra làm những loại như hắc kỳ (có màu đen, là loại đắt tiền nhất); thanh kỳ (màu xanh xanh, còn gọi là hoàng kỳ) và bạch kỳ (màu trắng đục). Trầm loại tốt có sắc đen, bóng, nặng trịch như khối sắt. Kỳ cũng nặng vậy, nhưng thường có tinh dầu rịn ra bên ngoài ươn ướt.
Đông y phân loại trầm tốt xấu bằng cách khi cho vào nước, trầm chìm xuống tận đáy là trầm tốt nhất; bỏ vào nước mà lơ lửng, không chìm, không nổi là trầm loại 2; còn trầm loại 3 là loại nổi trên mặt nước. Đông y thường dùng trầm loại 2 làm thuốc (vì loại 1 có giá rất cao).
Cây gió bầu cho vị thuốc kỳ hương.
Trong Đông y, người ta thường dùng trầm để làm thuốc hơn là kỳ, bởi kỳ quá hiếm và đắt tiền. Trầm có vị đắng, khí giáng xuống (chìm xuống). Còn kỳ thì có vị ngọt, khí bốc lên. Trầm giúp bổ nguyên dương, bổ thận khí, trợ sức cho công năng của tỳ thận. Ngoài ra, nó còn có tác dụng trợ tim, mạnh tim, lợi tiêu hóa, trị tiêu chảy, chống nôn; tác dụng rất hay trong trường hợp hen suyễn thở dốc. Kỳ nam chữa tiểu không cầm được, giúp giao hợp được lâu, rất hay trong điều trị các bệnh tiêu hóa như chứng đau do hơi dồn tức trong bụng, đau bụng tiêu chảy thể tả. Thường không cho chung kỳ nam với các vị thuốc khác, cũng như không qua đun nấu mà dùng bằng cách mài ra rồi uống.
Tuy nhiên với người có chứng âm hư hỏa vượng (đang sốt, khô gầy) tuyệt đối không được dùng trầm. Trong các sách Đông y còn nói cả đến tác hại của trầm, kỳ, theo đó những phụ nữ mang thai mà uống tinh dầu trầm, kỳ sẽ bị trụy thai và những người suy nhược cơ thể, suy gan, hỏa thịnh mà dùng trầm, kỳ sẽ hại cho cơ thể...
Để bạn đọc có thể thao khảo và áp dụng, dưới đây xin gợi ý vài phương thuốc trị  bệnh trong đó có kỳ hương.
Trị chứng xúc động mạnh gây khó thở: Dùng bột trầm hương và nhân sâm (mỗi thứ 2 chỉ), đem hãm với một chén nước sôi khoảng 10 phút, lấy nước để uống. Phương thuốc này rất hiệu nghiệm trong trường hợp bị xúc động mạnh, khí nghịch lên trên gây khó thở.
Trị chứng nấc, nôn ói: Bột trầm hương, nhục đậu khấu, hạt tía tô (mỗi thứ 2 chỉ). Cách chế biến cũng đem hãm như trên rồi lấy nước uống, có tác dụng trị chứng nấc, nôn ói do bị lạnh, khí nghịch.
Hỗ trợ sinh lý nam: Bột trầm hương, nhân sâm, quế nhục, ngũ vị tử và chích thảo (cam thảo đã sao) mỗi vị 4g, đem hãm với nước sôi để uống. Phương này dùng cho những trường hợp nam giới bị lạnh ở bụng dưới; tay, chân thường xuyên lạnh; khả năng sinh dục bị suy yếu.


NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ
NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ
Gọi cho chúng tôi 0902233317

Thứ Ba, 27 tháng 10, 2015

Ngưu bàng tử - Thuốc thông tiểu, trị cúm

Ngưu bàng tử là quả chín của cây ngưu bàng (Arctium Lappa L.) thuộc họ cúc (Compositiae). Là loại cây có nguồn gốc từ Trung Quốc được di thực sang nước ta. Ở nước ta cây ngưu bàng mọc hoang tại Bát Xát, Lào Cai. Đây là cây thảo lớn, thân thẳng, cao tới 1-2m, sống 2 năm, lá hình trái xoan, mọc thành hình hoa thị ở gốc, so le ở trên thân, có phiến lá to rộng, hình tim, có đường kính chừng 40 - 50cm, mặt dưới lá có nhiều lông trắng, cuống lá dài; cụm hoa hình đầu và mọc ở đầu cành, đường kính 2-4cm, hoa có màu đỏ hay tím nhạt, nở vào tháng 6 - 7 hàng năm, quả bế, màu xám nâu, hơi cong. Cây cho thuốc là ngưu bàng tử (quả ngưu bàng) hay ngưu bàng căn (rễ ngưu bàng) phơi hay sấy khô. Lá cây ngưu bàng non còn gọi là rau cẩm bình nấu canh ăn rất tốt.
Ngưu bàng tử (quả chín của cây ngưu bàng).
Ngưu bàng tử (quả chín của cây ngưu bàng).
Dược liệu ngưu bàng tử (Fructus Arctii Lappae), còn gọi là đại đao tử, hắc phong tử, á thực, thử niệm tử.
Theo Đông y, ngưu bàng tử có vị cay đắng, tính hàn, quy vào các kinh phế và vị; tác dụng trừ phong nhiệt, thanh nhiệt giải độc, thông phổi, làm mọc ban chẩn, tiêu thũng, sát khuẩn... Còn ngưu bàng căn có vị đắng cay, tính hàn, tác dụng lợi tiểu, lợi mật, làm ra mồ hôi, nhuận tràng, hạ đường huyết, có tác dụng trong một số bệnh ngoài da.
Tác dụng dược lý là giải cảm sốt (sơ tán phong nhiệt), lợi tiểu, hạ sốt, kháng khuẩn thể hiện rõ đối với nước sắc của thuốc đối với phế cầu khuẩn, chống giang mai. Ngoài ra thuốc còn tác dụng chống nọc độc, giải độc, thúc sởi mọc, theo dược lý cổ điển, thuốc còn có tác dụng lợi yết tán kết. Liều trung bình cho thuốc dạng sắc là 4 - 12g.
Trong Tây y còn sử dụng rễ cây ngưu bàng làm thuốc thông tiểu ra mồ hôi, lọc máu, chữa tê thấp, sưng đau xương khớp, hắc lào, mụn trứng cá, lở loét, sưng viêm vú, viêm tai, viêm phổi, thúc mụn nhọt mau vỡ mủ. Đặc biệt còn sử dụng cao rễ ngưu bàng trị bệnh tiểu đường vì có tác dụng làm hạ glucoza huyết hoặc trị mụn nhọt... Ở Đức người ta cũng sử dụng rễ ngưu bàng trị nhiều chứng như rối loạn tiêu hóa, đau dạ dày, ruột, gút, thấp khớp hoặc làm ra mồ hôi, lợi tiểu, lọc máu; vừa uống vừa bôi để trị ngứa, vảy nến, chàm, nhiễm khuẩn da...
Nhờ vậy mà thuốc được sử dụng để trị chứng ngoại cảm phong nhiệt như sốt, ho, đờm vàng (trường hợp viêm amidan, viêm họng, viêm đường hô hấp cấp).
Sử dụng phương Ngân kiều tán (ôn bệnh điều biện) gồm: kim ngân hoa, liên kiều, ngưu bàng tử, đạm đậu xị, mỗi vị từ 8 - 12g, cát cánh, trúc diệp mỗi thứ từ 6 - 12g, kinh giới tuệ 4 - 6g, cam thảo 2 - 4g, sắc uống từ 1-2 thang trong ngày.
Hoặc dùng một trong các phương đơn giản như:
Ngưu bàng tử 12g, kim ngân hoa 12g, liên kiều 8g, kinh giới 8g, bạc hà 8g, gia cam thảo 2 - 4g. Sắc uống ngày 1 thang.
Ngưu bàng tử 12g, bạc hà 6g, thuyền thoái 2 - 4g, sắc uống ngày 1 thang.
Trị cảm cúm: Ngưu bàng tử 24g, cát cánh 24g, bạc hà 24g, kim ngân hoa 40g, liên kiều 40g, cam thảo 20g, đạm đậu xị 20g, hoa kinh giới 16g, lá tre 4g. Tất cả tán bột. Lấy 24g mỗi lần cho hãm với nước sôi uống, ngày uống 3 - 4 lần (tùy bệnh nhẹ).
Trị sởi ở trẻ em: Chậm mọc mề đay dùng phương Ngân kiều tán hoặc sử dụng một trong các phương sau.
- Kim ngân hoa 12g, ngưu bàng tử 12g, thăng ma 8g, cát căn 12g, cam thảo 4g, kinh giới tuệ 4g, sắc uống.
- Ngưu bàng tử 12g, kinh giới 8g, bạc hà 4g, phòng phong 4g, cam thảo 3g, sắc uống.
Trị phù do dị ứng hoặc viêm cầu thận cấp.
Ngưu bàng tử (nửa sao, nửa để sống), bèo cái sao khô, cả hai vị lượng như nhau. Tán nhỏ trộn đều, mỗi lần uống 5g, chiêu với nước nóng, ngày uống 3 lần. Phương này có thể trị cả viêm họng sưng đau.
Trị mụn nhọt: Dùng cao rễ ngưu bàng hoặc bột rễ ngưu bàng mỗi ngày uống 0,6g cao thuốc hoặc bột thuốc trong 3 ngày liền.
Phòng trị một số bệnh ung thư: Dùng canh dưỡng sinh gồm ngưu bàng căn, nấm hương, cà rốt, nấu thành canh ăn hằng ngày.
Trị rắn cắn, côn trùng đốt: Lấy lá thân rễ giã nát đắp vào nơi rắn cắn hoặc ong, sâu bọ, muỗi, rết cắn. Có lẽ do tác dụng của men oxydaza có nhiều trong lá và thân cây ngưu bàng.

Lưu ý: Không sử dụng đối với người bị tiêu chảy do tỳ hư.


 
Design by Free WordPress Themes | Bloggerized by Lasantha - Premium Blogger Themes | Laundry Detergent Coupons