Chủ Nhật, 2 tháng 8, 2015

Làn da trắng hồng nhờ cây đàn hương

Gỗ đàn hương
Gỗ đàn hương thường được sử dụng để tạo ra các sản phẩm làm đẹp. Thành phần này cũng được sử dụng để chữa trị làn da cháy nắng cũng như làm sáng da một cách tự nhiên. Vậy làm thế nào để loại bỏ những tổn thương trên da với gỗ đàn hương tại nhà?
Phương pháp 1:
Trộn một ít bột nghệ với vài thìa thìa bột gỗ đàn hương. Thêm nước hoa hồng vào hỗn hợp.
Đắp trực tiếp vào vùng da bị rám nắng trong 30 phút và rửa sạch với nước lạnh.
Bạn có thể làm phương pháp này hai lần mỗi tuần.
how to remove sun tan-sandalwood
Gỗ đàn hương
Phương pháp 2:
Kết hợp dầu hạnh nhân, dầu dừa, và bột gỗ đàn hương.
Bôi đều vào các vùng da bị ảnh hưởng như mặt, cổ, tay và chân trong 30 phút. Sau đó rửa sạch bằng nước.
Nước dừa và gỗ đàn hương
Gỗ đàn hương là phương thuốc hoàn hảo để loại bỏ tế bào da chết và tạp chất. Thành phần này cũng làm giảm mụn nước và cảm giác khô rát do cháy nắng.
how to remove sun tan-coconut water and sandalwood
Nước dừa có tính mát và làm sáng da hiệu quả. Dưới đây là giải pháp kết hợp nước dừa với gỗ đàn hương:
Kết hợp nước dừa với bột gỗ đàn hương.
Thêm một vài giọt dầu hạnh nhân và bôi lên vùng da bị ảnh hưởng trong 20 phút.

Rửa sạch bằng nước.



Rau dền cơm chữa nhiều bệnh

Rau dền cơm hay còn gọi là rau dền gai (Amaranthus spinosus) mọc hoang dại ở những nơi đất bỏ hoang.
Rau dền cơm hay gai có thân thảo, to, đứng thẳng, phân nhánh cao khoảng 0,4 đến 1m, không lông, nhiều nhánh, có gai ở nách lá (sự hiện diện của gai giúp ta phân biệt dền gai với dền xanh amaranthus viridis). Phiến lá tròn, dài, thon, hình bầu dục đầu nhọn mũi giáo, 4 - 10cm, mặt dưới xanh lợt, cuống có 2 gai dài 3 - 15mm ở nơi gắn vào thân.
Rau dền cơm hay gai giàu dược tính nên được sử dụng làm thuốc; bộ phận sử dụng là rễ, thân và lá. Người ta thu hoạch rễ suốt năm, rửa thật sạch, cắt thành lát mỏng và phơi khô. Lá và thân non được ăn như rau xanh.
Thành phần hóa học ( theo Hooper): nước 52,10% (tươi), chất béo 2,21% (khô), alblumenoids 19,43% (khô), glucid 38.35% (khô), chất xơ thực phẩm 19,82% (khô), tro 20,20% (khô), Azote 3,11% (khô), phosphoric axít 1,13% (khô), silicates 1,90% (khô).
Đông y cho rằng dền gai có vị ngọt nhạt, tính hơi lạnh; có tác dụng thanh nhiệt, lợi tiểu, trừ thấp, ngừng tả. Thường dùng trị phù thũng, bệnh về thận, chữa lỵ và làm thuốc điều kinh. Phần cây trên mặt đất được dùng làm thuốc chữa bỏng, đắp tiêu viêm mụn nhọt. Lá có tính long đờm và được dùng trị ho và các bệnh về đường hô hấp. Hạt dùng để đắp, băng bó chấn thương... Cụ thể là một số cách trị liệu từ cây dền cơm (dền gai) như: dùng thân và lá để chữa trị làm dịu đau, trấn thống, thuốc lợi sữa, chất làm lạnh, lợi tiểu diuretic, thuốc tẩy xổ, bệnh bao tử, bệnh tả, đổ mồ hôi, nôn mửa, bệnh phong cùi. Hạt được sử dụng như là một thuốc dán để đắp lên chỗ gãy xương. Cây rau dền gai, giúp tạo nên sự co thắt trong những mô sống, làm giảm những dòng chảy của sự bài tiết và những chất thải của máu, những chất nhày. Đồng thời cũng tác dụng giảm sốt, và mềm mịn da, tạo sự ấm nóng và độ ẩm. Được sử dụng bên trong cơ thể trong điều trị nội xuất huyết, tiêu chảy và kinh nguyệt quá nhiều. Rễ dùng chữa trị rối loạn kinh nguyệt, bệnh lậu, chốc lở, đau bụng, long đờm, dịu đau trấn thống và lợi sữa galactogogue, hay viêm sưng phồng lên. Rễ có thể giúp thúc đẩy hoặc làm tăng lưu lượng kinh nguyệt. Rau dền gai cũng giúp tăng sự sản xuất sữa cho người mẹ trong thời kỳ cho con bú. Hoặc chỉ dùng riêng rau dền gai để chữa trị chứng khó tiêu và ói mửa có thể xảy ra khi ăn những thức ăn lạ, không quen vào cơ thể. Dung dịch nước ép rau dền gai được sử dụng ở Népal để điều trị sốt, rối loạn đường tiểu hay tiểu khó, tiêu chảy và bệnh lỵ.
Rau dền cơm chữa nhiều bệnh
Dưới đây là cách trị bệnh từ rau dền cơm (dền gai):
Cây rau dền gai điều trị gai cột sống và thoái hóa cột sốngcây chìa vôi 50g, cây dền gai 30g, lá lốt 30g, cỏ xước 30g, tầm gửi 30g 2 lit nước: đun cỏ xước, tầm gửi, chìa vôi với 2 lit nước đến khi sôi cho dền gai và lá lốt vào, đun thêm 3 - 5 phút bắc ra để nguội uống thay nước hàng ngày. Người bị gai cột sống thời gian bệnh vừa phát triển hay bệnh lâu dài, đã sử dụng bài thuốc như trên cảm thấy rất hiệu quả.
Trật đả, ứ huyếtdùng cành lá hay toàn cây nấu nước uống, mỗi ngày 10 - 15g uống thay nước trà.
Viêm họng, đau họng: thân, lá cây rau dền cơm (gai), lượng vừa đủ, thêm một ít muối hạt, 1 - 3 lát gừng tươi. Tất cả nhai nát, nuốt nước dần. Ngày nhai, ngậm 1 - 2 lần đến khi đỡ đau họng.
Mụn nhọt chưa vỡ: rễ rau dền cơm (gai) rửa sạch, giã nát, đắp lên mụn nhọt, có tác dụng làm nhanh vỡ mủ.
Bỏng nhẹ: thân, lá cây rau dền gai rửa sạch, giã nát, đắp lên vết bỏng.
Rau dền cơm chữa nhiều bệnh
Rau dền cơm (dền gai)
Ho có đờm: thân, lá cây rau dền gai 50 - 100g, giã nát, vắt lấy nước uống. Hoặc dùng thân, lá cây rau dền gai 50g, lá bồng bồng 20g, kim ngân hoa 20g, cam thảo đất 16g. Sắc uống ngày một thang, chia 2 - 3 lần. Hoặc dùng thân, lá cây rau dền gai 50g, lá húng chanh 16g, vỏ rễ dâu tằm 16g, cam thảo đất 16g. Sắc uống ngày một thang, chia 2 - 3 lần. Dùng 5 - 7 ngày.
Chữa sỏi thận: rễ rau dền cơm (sao vàng), kim tiền thảo, mã đề, rễ thiên lý, rễ cỏ tranh, đậu đen (sao thơm) mỗi thứ 12g; vỏ quả bí đao 20g, sắc uống. Uống trong 10 ngày.
Chữa da nổi mẩn ngứa do tiếp xúc với rơm rạ: dền cơm tươi, rau sam tươi, lá hẹ tươi (hoặc lá bạc hà tươi) các vị đều bằng nhau. Giã nát đắp vào chỗ da nổi mẩn, mỗi ngày 2 - 3 lần.
Chữa kinh nguyệt không đều: rau dền cơm 15g, bạc thau 20g, sắc uống.
Rau dền cơm chữa nhiều bệnh
Chữa bạch đới, khí hư: rễ rau dền gai 20g, lá bạc hà 16g, phơi khô, thái nhỏ, sắc 400ml nước lấy 200ml, chia làm 2 lần uống trong ngày. Dùng 7 - 10 ngày.
Bị ong đốt, rết cắn hãy một nắm rau dền cơm giã nhỏ đắp lên vết cắn đốt.
Bồi bổ cho trẻ nhỏ: món cháo tôm, rau dền cơm được nhân dân ta coi là một món ăn, bài thuốc bồi bổ sức khỏe tốt cho trẻ nhỏ vì nó có nhiều chất khoáng và vitamin. Do giàu canxi và các vitamin A, C, rau dền có tác dụng giúp trẻ em tăng trưởng khoẻ mạnh, phát triển chiều cao.
Trị chứng đi lỵ: 50g thân, lá cây dền cơm; 30g rau sam, nấu canh ăn ngày 1 - 2 lần. Hoặc lấy 100g thân, lá cây dền cơm sắc lấy nước uống ngày một thang.
Trị ung nhọt đau nhức chưa vỡ mủ: rễ cây dền cơm rửa sạch, giã nát đắp lên ung nhọt, giúp làm nhanh vỡ mủ, đỡ đau nhức.
Chữa viêm da mủ với lá dền cơm: lấy toàn cây rau dền cơm rửa sạch, giã nát, đắp lên nơi tổn thương.

Rắn cắn: hạt rau dền cơm 5g (1 muỗng đầy), phèn chua 0,5g. Cả hai thứ đem giã nát, chia hai phần, một phần để uống, chiêu thuốc với rượu hoặc nước ấm (rượu dẫn thuốc nhanh hơn). Phần còn lại đem đắp lên vết cắn. Cần kết hợp với hút nọc rắn tại vết cắn. (Chỉ dùng ban đầu khi chưa kịp đưa tới bệnh viện).



Những công dụng tuyệt vời của cây sả

Cây sả tên khoa học Cymbopogon citratus (L.) Pers, họ lúa (Poaceae). Ở vùng cao, cây sả được đốt thành tro làm muối chấm, mọi nơi dùng làm gia vị, làm thuốc chữa cảm lạnh, ăn không tiêu, nấu nước tắm, gội đầu. Cây trồng dọc bờ rào để trừ muỗi, rắn. Trồng nhiều sả để cất tinh dầu dùng trong nước và xuất khẩu. Trên thế giới chỉ có một số nước có sả. Việt Nam có khí hậu thích hợp với sả nên sả mọc hoang, trồng và di thực đều tốt trên khắp mọi miền đất nước.
Cây sả có vị cay, tính ấm vào 2 kinh: Phế và Vị. Có tác giả nói sả vào cả kinh Bàng quang.
Làm thuốc:
Giải cảm lạnh: Nồi xông giải cảm lạnh, cúm. Nấu cùng các loại lá thơm khác (bưởi, tía tô, lá tre…).
Gói bột giải cảm: sả khô bỏ rễ 40g, hoắc hương khô 40g, bạc hà khô 40g, vỏ quýt lâu năm 20g, củ gấu (đã chế biến) 20g, cam thảo 20g. Sấy khô, tán bột đóng gói 20g. Người lớn ngày 2 gói chia 4 lần. Trẻ em liều 1/2. Uống với nước nóng, đi nằm cho ra mồ hôi. Nếu có nôn cho 3 lát gừng hãm lấy nước uống cùng.
Chữa tiêu chảy do lạnh (hàn thấp): củ sả sao 12g, riềng sao 12g, gừng tươi nướng 8g, nụ sim 8g (hoặc búp ổi sao 12g). Lấy 500ml nước sắc còn 1/2. Chia 2 lần uống trong ngày.
Chữa ho do lạnh: củ sả tươi 30g, gừng tươi 20g, mật ong 30g. Giã sả với gừng lọc lấy 200ml nước, hòa với mật ong đun nhỏ lửa cho sôi là được. Chia 3 lần uống trong ngày.
Chữa chấn thương sưng đau: củ sả già 12g, muồng 12g, rau má 12g, rễ tranh 12g, cỏ mực 12g, ké đầu ngựa 12g, cỏ màn chầu 12g, ngải xanh 8g, rễ nhàu 8g, gừng 3 lát, thuốc cứu 4g. Sắc 3 bát còn 1 bát, hòa với 1 ly rượu nhỏ để uống.
Sản xuất tinh dầu:
Dựa vào thực vật học thì sả được chia làm 9 loại; nhưng dựa vào tinh dầu thì sả chia ra 2 loại: loại cung cấp geranitol và loại cung cấp citral (sả chanh). Miền Bắc chú trọng tinh dầu geranitol, còn miền Nam quan tâm sả chanh để cho citral. Các nước Âu Mỹ phải nhập sả về chế geranitol phục vụ công nghệ mỹ phẩm. Quý giá hơn nữa là người ta chế ra nhiều chất để dùng định hương, làm thay đổi mùi và hương thơm. Còn loại tinh dầu sả chanh chứa gần 80% a.citral và b.citral và nhiều thành phần quý giá khác.
Từ tinh dầu sả chế thành các chế phẩm để trừ côn trùng trong nhà ở, làm dung dịch phòng muỗi, dung dịch làm hết ngứa do muỗi đốt. Những sản phẩm này phục vụ đắc lực cho đồng bào sống nơi nhiều muỗi, đặc biệt khi có dịch sốt xuất huyết do muỗi truyền. Khi không có tinh dầu, ta có thể lấy nước nấu cây sả và đơn giản hơn nữa lấy cây sả hoặc lá sả làm chổi đuổi muỗi, hoặc để cây sả vào những nơi muỗi tập trung như gầm giường. Cây sả sẽ góp phần đắc lực trừ muỗi trong công tác phòng chết sốt xuất huyết.
Sau khi cất tinh dầu, bã sả là một loại phân bón hữu cơ, làm nguyên liệu dệt thảm, bao tải, bện thừng, làm giấy và rất nhiều lợi ích khác. Nó còn xứng đáng là cây công nghiệp “căn bản” trong sự nghiệp xóa đói giảm nghèo cho mọi tầng lớp nhân dân ta. Mọi nhà đều nên trồng sả ở quy mô thích hợp.



Bài thuốc chữa bệnh từ cây nụ áo

Theo y học cổ truyền, cây nụ áo có vị đắng, tính lạnh, có tác dụng thanh nhiệt giải độc, lợi niệu, hoạt huyết, tiêu thũng. Dùng để chữa đinh nhọt đơn độc, viêm khí quản mạn tính, viêm thận cấp tính, bị ngã đánh sai khớp chấn thương...
Cây nụ áo còn có tên là long quỳ, khổ thái, khổ quỳ, gia cầu, thiên già tử… Là loài cỏ mọc hằng năm, thân nhẵn hoặc có ít lông, cao 50-80cm, có nhiều cành. Lá hình bầu dục, mềm, nhẵn, dài 4-15cm, rộng 2-3cm. Hoa nhỏ, màu trắng, mọc thành tán nhỏ có cuống ở kẽ lá. Quả hình cầu, đường kính 5-8mm, lúc đầu màu lục, sau vàng và khi chín có màu đen tím.Hạt dẹt, hình thận, nhẵn, đường kính chừng 1mm.
Bài thuốc chữa bệnh từ cây nụ áo
Lá ngọn cây nụ áo có thể sử dụng làm thuốc và rau ăn
Cây mọc hoang khắp nước ta, thường thấy ở các bãi hoang, vườn ruộng khô, hai bên đường.Một số địa phương dùng cây này làm rau ăn, nhưng phải nấu chín.Khi chế biến phải chần qua nước sôi. Bộ phận dùng làm thuốc thu hái toàn cây phơi hay sấy khô, tuy nhiên quả không dùng vì có độc.
Một số bài thuốc thường dùng:
Bài 1: Chữa bong gân sưng đau: Lấy lá nụ áo tươi một nắm, hành trắng để liền cả rễ 7 củ, thêm chút men rượu, giã nát, đắp lên chỗ bong gân rồi băng cố định lại, ngày thay thuốc 1-2 lần.
Bài 2:Chữa tiểu tiện không thông, phù thũng do gan yếu:Cây nụ áo khô 15g, mộc thông 15g, rau mùi 20g. Tất cả cắt khúc, rửa sạch cho vào ấm đổ 700ml nước, sắc còn 250ml, chia 2 lần uống trong ngày. 10 ngày 1 liệu trình.
Bài 3:Hỗ trợ điều trị viêm khí quản mạn tính ở người cao tuổi:Cây nụ áo tươi 30g, cát cánh 9g, cam thảo 3g. Tất cả rửa sạch cho vào ấm đổ 550ml nước, sắc nhỏ lửa còn 300ml, chia thành 2 lần uống trong ngày. Mỗi liệu trình kéo dài 10 ngày, giữa các liệu trình nghỉ dùng thuốc 5-7 ngày.   
Bài 4:Chữa vết thương bầm tím, sưng đau do va đập, ngã:Dùng cả cây nụ áo tươi 80g, giã nhỏ, thêm một chút giấm, vắt lấy nước cốt uống, còn bã dùng đắp lên chỗ sưng đau bầm tím.
Bài 5: Chữa khí hư bạch đới ở phụ nữ: Dùng cây nụ áo, hoa mào gà trắng, quán chúng mỗi vị 30g. Tất cả cho vào ấm đổ 550ml nước, sắc nhỏ lửa còn 200ml nước, sắc 3 lần thuốc, bỏ bã, dùng nước thuốc nấu với 200g thịt lợn nạc thành món canh, chia ra 2 lần ăn trong ngày. 15 ngày một liệu trình.
Bài thuốc chữa bệnh từ cây nụ áo
Không dùng quả nụ áo vì có độc.
Bài 6:Hỗ trợ điều trị lỵ: Dùng lá nụ áo khô 25-30g (nếu là lá tươi tăng gấp đôi liều lượng). Rửa sạch, cho vào ấm đổ 550ml nước, sắc còn 250ml thêm chút đường trắng, chia 2 lần uống trong ngày.10 ngày một liệu trình.

Bài 7: Chữa cảm sốt, sưng họng:Cây nụ áo tươi 20-30g, rửa sạch, giã nát, thêm chút nước đun sôi để nguội vào, vắt lấy nước cốt, chia 2 lần uống trong ngày. 5 ngày 1 liệu trình.Hoặc có thể dùng rễ nụ áo 100g, rễ ké hoa vàng 100g, hạt tiêu đen 2,5g, mỗi lần uống 3 - 5g.



Cây thuốc đằng hoàng

Đằng hoàng còn gọi là vàng nhựa, vàng nghệ, gommegutte, đom rông, cam rông, roeng (Campuchia).
Tên khoa học Garcinia hanburyi Hook. f (Cambogia gutta Lour, (non L.).
Thuộc họ Măng cụt Clusiaceae (Guttiferae).
Đừng nhầm vị đằng hoàng (Gomme gutte) với vị hoàng đằng (xem vị này). Đằng hoàng là vị thuốc được dùng trong cả đông y và tây y. Các tài liệu cổ của Trung Quốc đã ghi từ thế kỷ X và trong Bản thảo cương mục của Lý Thời Trân (Trung Quốc) có ghi vị này (thế kỷ XVI). Đằng hoàng được dùng ở châu Âu vào năm 1603 (lúc đầu người ta cho đây là dịch mủ của một cây loại xương rồng, mãi tới 1864 Hanburyi mới nghiên cứu xác minh cẩn thận).
Mô tả cây
Cây to cao 10 - 20cm, thân nhẵn, thẳng đứng, cành ngả xuống đất. Lá mọc đối, cuống ngắn, hình bầu dục hay hình mác, hai đầu hơi tù, phiến lá dai, nguyên nhẵn, dài 10 - 20cm, rộng 3 - 10cm. Hoa khác gốc, hoa đực mọc ở nách lá, đơn độc hay tụ thành 3 - 6, có cuống, có lá kèm nhỏ, hoa cái mọc ở nách lá, đơn độc, to hơn hoa đực. Quả mọng hơi hình cầu, đường kính 2 - 5cm, phía cuống có đài tồn tại, 4 ngăn, mỗi ngăn có một hạt hơi cong hình cung. Mùa hoa tháng 12 - 1, mùa quả tháng 2 - 3.
Phân bố, thu hái và chế biến
Theo những tài liệu cũ thì cây chỉ mới thấy mọc ở miền Nam nước ta, ở Campuchia và Thái Lan. Cần chú ý phát hiện ở miền Bắc. Còn được trồng ở Giava (Indonesia) và Singapore.
Tất cả các bộ phận của cây đều có những ống bài tiết nằm trong mô vỏ, trong like, tủy và cả trong mô gỗ. Thường sau mùa mưa (ở miền Nam, vào các tháng 1 - 5) người ta dùng rìu khía thành vòng xoắn ốc trên thân, những khía sâu vài mm từ dưới đất lên đến cành thứ nhất. Một chất dịch mủ màu vàng chảy ra được hứng vào các ống tre, sau một thời gian nhựa mủ đặc lại. Hơ nóng đều ống tre cho nước bốc hết đi. Chẻ lấy vị đằng hoàng. Mỗi cây mỗi năm có thể cho ba thỏi đằng hoàng dài 0,50cm, đường kính 4cm. Loại đằng hoàng thỏi này được chuộng nhất trên thị trường tiêu thụ. Nhưng có khi vị đằng hoàng còn đang mềm, người ta nặn thành bánh hay thành miếng to nhỏ không đều. Có nơi người ta uốn cong cả cành đằng hoàng cắt đầu cho nhựa mủ chảy ra, hứng vào ống tre hay vại rồi chế thành đằng hoàng thỏi hay miếng như trên.
Cây thuốc đằng hoàng
Công dụng và liều dùng
Đằng hoàng hiện nay ít dùng. Trước đây dùng làm thuốc tẩy nhẹ với liều 0,10 - 0,15g. Với liều 4g có thể chết.
Tại Campuchia người ta dùng chữa cảm và viêm phế quản.
Ngoài ra còn có tác dụng tẩy giun và tẩy sán.
Trong công nghiệp dùng trong sơn, vẽ màu và chế vecni phủ lên kim loại.
(Theo Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam)
GS. ĐỖ TẤT LỢI



Cây tầm xuân trị cảm nắng, cầm máu

Tầm xuân là loại cây dây leo thường được dùng làm cây cảnh sân vườn, trang trí trên ban công, hiên nhà, trên hàng rào. Tầm xuân mọc thành bụi, lá kép lông chim, thân nhiều gai, hoa 5 cánh nhỏ bé nhưng khá đẹp với nhiều màu sắc khác nhau như hồng, đỏ, trắng, vàng... Để chữa bệnh người ta thường dùng loại tầm xuân có hoa màu trắng là tốt hơn cả.
Rất nhiều bộ phận của tầm xuân được dùng làm thuốc như: hoa, lá, rễ, quả.
Hoa: thường được thu hái vào mùa xuân và mùa hè dùng để chữa các chứng bệnh:
Cảm nắng, cảm nóng vào mùa hè: người bệnh có triệu chứng tức ngực, buồn nôn và nôn, có thể nôn ra máu, môi khô miệng khát, chán ăn mệt mỏi: Dùng hoa tầm xuân 3-9g. Sắc uống.
Cây tầm xuân trị cảm nắng, cầm máu
Hoa tầm xuân trắng hay được dùng làm thuốc.
Hoặc hoa tầm xuân 5g, thiên hoa phấn 10g, sinh thạch cao 30g, mạch môn 15g. Sắc uống.
Hoặc hoa tầm xuân 10g, hoa đậu ván trắng 10g hãm với nước sôi, chế thêm một chút đường phèn, uống thay trà.
Nôn ra máu, chảy máu cam: hoa tầm xuân 6g, bạch cập 15g, rễ cỏ tranh 30g. Sắc uống.
Lá: thu hái quanh năm, có tác dụng sinh cơ và làm liền nhanh vết thương. Lá tầm xuân dùng chữa các bệnh:
Chữa ung nhọt làm mủ lở loét: dùng lá tầm xuân sấy khô tán bột trộn với mật ong và giấm đắp lên nơi tổn thương.
Nhọt độc sưng nề nhiều: lá và cành non tầm xuân rửa sạch giã nát với một chút muối rồi đắp lên nơi tổn thương.
Rễ: vị đắng hơi sáp, tính bình, có công dụng thanh nhiệt lợi thấp trừ phong, hoạt huyết và giải độc, dùng chữa các chứng:
Chảy máu cam  mạn tính: vỏ rễ tầm xuân 60g hầm với thịt vịt già, ăn.
Ghẻ về mùa hè: rễ tầm xuân sắc uống thay trà.
Đau răng, viêm loét miệng: dùng rễ tầm xuân sắc uống hoặc ngậm.
Hoàng đản (vàng da do nhiều nguyên nhân): rễ tầm xuân 15-25g hầm với 60g thịt lợn nạc, chế thêm một chút rượu vang chia ăn vài lần trong ngày.
Trị vết thương chảy máu: rễ tầm xuân lượng vừa đủ sấy khô tán bột rắc vào vết thương, cũng có thể trộn với dầu vừng để đắp.

Rong huyết: dùng rễ tầm xuân 30g, ngải cứu già đốt tồn tính 10g, cỏ nhọ nồi 30g, tiên hạc thảo 30g. Sắc uống hàng ngày.



 
Design by Free WordPress Themes | Bloggerized by Lasantha - Premium Blogger Themes | Laundry Detergent Coupons