Chủ Nhật, 28 tháng 12, 2014

Cỏ sữa giúp chữa rối loạn tiêu hóa

Cỏ sữa là loại cây mọc hoang khắp nơi, nhất là ưa mọc ở những vùng đất có sỏi, đá hay những kẽ gạch xi măng.

Ảnh minh họa
Cỏ sữa thường được dùng để điều trị kiết lỵ trong dân gian, đặc biệt dùng nhiều cho trẻ em. Ngoài ra, cỏ sữa còn được dùng chữa một số bệnh ngoài da, vết thương. Ở một số nước thì cỏ sữa lá nhỏ còn được dùng để sản xuất thuốc trừ sâu và thuốc cá. 

Trong thành phần của cỏ sữa có chứa nhiều axit galic, quercetin, hợp chất phenolic, một ít tinh dầu và vết alcaloit. Theo Đông y, cỏ sữa có vị hơi đắng, chua, tính mát, hơi có độc, tác dụng tiêu viêm, lợi tiểu, giải độc, chống ngứa, thông sữa. Toàn cây đều được dùng làm thuốc.
Điều trị các trường hợp rối loạn tiêu hóa: Cỏ sữa giúp hạ sốt và làm mát cơ thể, giúp làm mềm da và làm giảm kích ứng các màng nhầy trong cơ thể. Cỏ sữa có tác dụng xổ nhẹ, trong lá còn chứa nhiều cellulose. Mỗi ngày dùng 15g cỏ sữa (dùng riêng hoặc phối hợp với 5g hương nhu hay húng quế) ở dạng dịch ép nguyên chất, dạng bột dẻo hoặc dạng nước sắc.
Chữa nhiễm khuẩn đường hô hấp: Cỏ sữa được dùng như một loại thuốc cổ truyền có tác dụng tốt đối với các bệnh nhiễm khuẩn đường hô hấp như ho, cảm lạnh, sổ mũi, viêm phổi và hen suyễn nhờ tác dụng làm dãn phế quản cũng như các mạch máu ngoại vi.
Cầm tiêu chảy: Cỏ sữa rất hữu hiệu trong việc điều trị chứng tiêu chảy. Lấy khoảng 12g thân lá nghiền hoặc xay chung với ít nước và uống sẽ giúp cầm tiêu chảy và lỵ.
Chữa các rối loạn tiết niệu, sinh dục: Cỏ sữa rất hiệu quả trong việc điều trị bệnh lậu, hoa liễu. Cây cỏ sữa còn được dùng để chữa liệt dương, xuất tinh sớm hoặc những trường hợp sinh lý yếu, xuất tinh ngoài ý muốn.
Chữa giun sán: Lá cỏ sữa được dùng để trị bệnh giun sán đặc biệt là nhóm giun đũa giun kim ở trẻ nhỏ.
Chữa sản phụ thiếu sữa hoặc tắc tia sữa: Cỏ sữa giúp gia tăng lượng sữa cho những phụ nữ đang trong thời kỳ cho con bú.
Chữa các bệnh nhiễm trùng da: Cỏ sữa có tác dụng làm lành các vết loét trên da. Lấy cây cỏ sữa phơi khô nghiền thành bột trộn thành khối nhão sau đó đắp lên vết thương hay vết bỏng. Nó còn hữu hiệu để làm tiêu các mụn cóc bằng cách bôi trực tiếp trên vùng da bị nhiễm.
Chữa nứt môi hoặc viêm lưỡi: Lấy dịch mủ của cây cỏ sữa bôi lên môi sẽ giúp mau lành các vết nứt nẻ.
Dưỡng tóc: Lấy dịch mủ của cây cỏ sữa chà xát lên da đầu sẽ giúp cho tóc mọc mau và tăng trưởng tốt.

Theo BS Huỳnh Đặng Bảo Cương - Kiến thức

Thứ Bảy, 27 tháng 12, 2014

Ma hoàng - Vị thuốc chữa hen suyễn

Ma hoàng có tên khoa học là Herba Ephedrae, là bộ phận trên mặt đất phơi khô của nhiều loại ma hoàng: thảo ma hoàng, mộc tặc ma hoàng, trung ma hoàng. Thân lá cây ma hoàng được dùng làm thuốc trị hen, giải cảm phong hàn. Rễ ma hoàng dùng làm thuốc thu liễm.
Ma hoàng - Vị thuốc chữa hen suyễn
Ma hoàng.
Theo YHCT, ma hoàng có vị cay, tính ấm, qui vào kinh phế, bàng quang, thuốc có tác dụng phát hãn giải biểu, bình suyễn chỉ khái, lợi tiểu tiêu phù, ôn tán hàn tà. Để chữa các chứng ho suyễn trong các bệnh viêm đường hô hấp trên, viêm phế quản, hen phế quản, ho gà..., có thể lựa chọn một trong các bài thuốc sau đây:
Bài “Tam ảo thang” trị ho suyễn: ma hoàng 6g, hạnh nhân 10g, cam thảo 3g. Sắc uống ngày 1 thang.
Bài “Ma hạnh thạch cam thang gia vị”: ma hoàng 8g, hạnh nhân 8g, cam thảo 8g, bách bộ 8g, thạch cao 20g, cát cánh 12g, hoàng cầm 12g. Sắc uống ngày 1 thang.
Bài “Tiểu thanh long thang”: ma hoàng 8g, bạch thược 12g, quế chi 8g, can khương 8g, bán hạ chế 6g, chích cam thảo 8g, tế tân 6g, ngũ vị tử 6g. Sắc uống ngày 1 thang.
Chú ý: Không dùng đối với chứng biểu hư ra nhiều mồ hôi, phế hư có sốt cao.
Thận trọng khi dùng cho bệnh nhân có bệnh tăng huyết áp.

   BS. Thái Hà

Thực hư về tác dụng của sừng tê giác

Đối với bài thuốc, vị thuốc có liên quan đến động vật hoang dã thuộc loại quý hiếm cần phải bảo tồn triệt để (như: cao hổ cốt, sừng tê giác), quan điểm cần nhất quán là chúng không phải là sinh vật tồn tại chỉ nhằm chữa bệnh cho con người.
Tê giác là động vật hoang dã, có nhiều tên khoa học do có nhiều loại, như: tê giác một sừng ở Ấn Độ có tên Rhinoceros unicornis L., tê giác ở Indonesia có tên Rhinoceros sumatrensis Cuvier, tê giác hai sừng Rhinoceros bicornis L.Về sừng tê giác, trên thị trường người ta phân biệt sừng tê giác ở châu Á (Cornu Rhinoceri asiatici) và sừng tê giác ở châu Phi (Cornu Rhinoceri africani). Thành phần hóa học chủ yếu của sừng tê giác gồm có keratin, calci carbonat, calci phosphat, protein (có các acid amin điển hình như: tyrosin, cystein, thiolactic…)… Theo báo cáo của Nam Kinh Dược học viện Trung Quốc, nước chiết sừng tê giác có phản ứng của alcaloid (một hợp chất thường thấy trong các loại dược thảo cho nhiều tác dụng dược lý khác nhau). Tuy nhiên, cho tới nay, thành phần hoạt chất (tức chất cho tác dụng điều trị nào đó) trong sừng tê giác vẫn chưa rõ là gì (theo sách “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” của GS.TS. Đỗ Tất Lợi, Nhà xuất bản Y học, năm 2000). Theo sách cổ, sừng tê giác có vị đắng, chua, mặn, tính hàn, đi vào 3 kinh tâm, can, vị; có tác dụng mát huyết, giải ôn độc và định kinh; được dùng khi bị sốt cao đưa đến điên cuồng hoặc mê man, sốt vàng da, thổ huyết, nhức đầu, ung độc, hậu bối… Nhưng từ những gì được ghi trong sách cổ, sừng tê giác theo thời gian được dùng theo kinh nghiệm dân gian và được đồn đại, truyền miệng cho đến nay, những tác dụng của sừng tê giác được gán ghép, nhân nhiều lên, thổi phồng để trở thành huyền thoại chữa được “bá bệnh”, như: sừng tê giác chữa được nhiều loại ung thư hoặc chữa một cách “thần sầu” bệnh yếu sinh lý, liệt dương ở nam giới. Và vì thế, sừng tê giác trở thành một vị thuốc rất đắt tiền, và tê giác bị săn lùng, bị tận diệt một cách không thương tiếc để ngày nay được nêu trong sách đỏ cần được bảo vệ nghiêm ngặt.
Thực hư về tác dụng của sừng tê giác
Cũng xin nói thêm, một tác dụng của bài - vị thuốc gọi là chữa trị theo kinh nghiệm dân gian hay dùng theo lối truyền miệng, đồn đại nếu không trải qua một nghiên cứu khoa học đúng quy cách chứng thực thì tác dụng ấy không thể gọi là chắc chắn (có người dùng thấy có tác dụng nhưng nhiều người khác lại thấy chẳng có tác dụng gì cả, trong khoa học tác dụng ấy được gọi là chẳng có giá trị về mặt thống kê). Nền y học được thế giới công nhận hiện nay hiện nay được gọi là y học thực chứng (evidence-based medicine), tức là tác dụng hiệu quả của một thuốc hay một phương thức trị liệu nào đó phải dựa vào chứng cứ là kết quả thử nghiệm lâm sàng khoa học đúng quy cách chứ không dựa vào sự đồn đại, truyền miệng. Nền y học cổ truyền của ta cũng đang thừa kế, phát triển trong chiều hướng thực hiện các công trình khoa học bài bản chứng thực tác dụng của các vị thuốc, bài thuốc dùng theo kinh nghiệm dân gian lâu đời ở nước ta.
Cho tới nay, tác dụng chữa bệnh của sừng tê giác vẫn dựa theo lời đồn đại, truyền miệng chứ chưa có công trình khoa học nào xác định tính hiệu quả của tác dụng này. Và nếu chưa chứng minh được bằng nghiên cứu khoa học đúng quy cách thì các tác dụng đó có khi chỉ là thêu dệt, chỉ là huyền thoại. Nếu chỉ dựa vào huyền thoại mà con người tìm cách tận diệt một loài thú hoang dã quý hiếm, và việc mua bán lậu sừng của chúng thật ra vì lòng tham lợi nhuận khổng lồ, thì phải xem các hành động đó là tội ác cần trừng trị.
PGS.TS. NGUYỄN HỮU ĐỨC

(ĐH Y Dược TP.HCM)

Công dụng chữa bệnh của húng quế

Mô tả cây
Cây thuộc thảo, sống hằng năm, thân nhẵn hay có lóng, thường phân cành ngay từ dưới gốc, cao 50 - 60cm. Lá mọc đối có cuống, phiến lá hình thuôn dài, có thứ màu xanh trắng hay hơi tía, mọc thành chùm đơn hay phân nhánh với những hoa mọc thành vòng 5 đến 6 hoa một. Quả chứa hạt đen bóng, khi ngâm vào nước có chất nhày màu trắng bao qianh.
Phân bố, thu hái và chế biến
Người ta cho rằng cây này vốn nguồn gốc ở Ấn Độ và Trung Quốc, nhưng hiện nay được trồng ở nhiều nước nhiệt đới và ôn đới thuộc châu Á, châu Âu (như Pháp, Đức, các nước thuộc Liên Xô cũ, Ý, Tây Ban Nha,…). Tại những nước này thường trồng với mục đích như hái lá và toàn cây cất tinh dầu dùng làm thuốc hay trong công nghiệp chất thơm.
Húng quế
Húng quế
Ở nước ta, tại miền Bắc trước đây chỉ thấy trồng lấy lá và ngọn làm gia vị. Từ năm 1975, tại một số tỉnh đã trồng trên quy mô lớn để cất tinh dầu húng quế dùng trong công nghiệp chất thơm ở trong và ngoài nước. Ở miền Nam ngoài mục đích để làm gia vị như ở miền Bắc, người ta còn thu hoạch quả (gọi nhầm là hạt để ăn cho mát và giải nhiệt gọi là hột é).
Để làm thuốc người ta chỉ hái lá và ngọn có hoa phơi hay sấy khô. Để cất tinh dầu người ta hái toàn cây, cất tươi hay để hơi héo mới cất.
Công dụng và liều dùng
Ở nước ta trước đây húng quế chỉ thấy được trồng làm gia vị. Tại miền Nam, ngoài công dụng làm gia vị người ta còn thu hoạch hạt để ăn cho mát, hơi có tác dụng chống táo bón. Cho từ 6 - 12g hạt vào nước thường hay nước đường. Đợi cho chất nhầy nở ra rồi uống.
Tại các nước khác người ta trồng húng quế chủ yếu làm nguồn cây cho nguyên liệu cất tinh dầu hoặc lấy cây sắc uống chữa sốt, làm cho ra mồ hôi, chữa đau dạ dày, ăn uống không tiêu, thông tiểu, nấu nước súc miệng và ngậm chữa đau, sâu răng. Mỗi ngày uống từ 10 - 25g dưới dạng thuốc sắc hay thuốc pha. Hạt có thể dùng đắp lên mắt đau đỏ.
Từ năm 1975, tại miền Bắc một số tỉnh đã trồng húng quế với mục đích dùng cây cất tinh dầu dùng trong công nghiệp chất thơm trong nước và xuất khẩu.
(Theo Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam)

của GS. ĐỖ TẤT LỢI

Rau bó xôi bổ dưỡng

Một số cách dùng rau tốt cho sức khỏe
Bổ thận, tráng dương: rau bó xôi 200g, sò khô 50g, câu kỷ 10g, táo đỏ 10 quả, hành 10g, dầu 30g, muối 5g, sò khô rửa sạch cắt miếng, táo đỏ bỏ hột, câu kỷ bỏ tạp chất. Đỏ dầu nóng phi thơm hành cho 1.000ml nước sôi, bỏ sò, rau bó xôi, câu kỷ vào nấu 5 - 10 phút thì chín. Ngày ăn 1 lần với cơm.
Để chữa các bệnh trên có thể dùng rau bó xôi đơn giản, bằng cách chỉ có rau bó xôi nhúng nước sôi xong đem ép lấy nước, hoặc nấu nước uống. Có thể ép cùng các rau quả khác.
Chữa thiếu máu, khí huyết hư, suy nhược: dùng một lượng rau bó xôi vừa ý, luộc hoặc nhúng nước sôi xong đem nấu canh với thịt lợn nạc, hoặc gan lợn, hoặc trứng gà…
Thiếu máu, mất máu, trĩ táo bón, ngứa: tiết lợn 250g luộc chín kỹ xong thái lát rồi cho lại vào nước luộc cùng rau bó xôi với lượng vừa ý nấu thành canh (khoảng 500g rau) nêm gia vị.
Thiếu máu, suy nhược mỏi mệt, rã rời chân tay đuối sức: rau bó xôi 700g, nhân sâm 5g, thịt lợn 500g, bột mì 3kg, gừng tươi hành hạt tiêu, xì dầu, muối vừa đủ. Rau bó xôi chỉ lấy lá giã nát cho ít nước đánh nhuyễn cho vào vải sô vắt lấy nước để sẵn. Nhân sâm tán bột rây mịn. Thịt lợn băm vụn tra muối, xì dầu, bột hạt tiêu, bột gừng trộn đều, hòa ít nước khuấy thành hồ, cho hành, nhân sâm, trộn đều làm nhân bánh. Đổ nước rau bó xôi vào bột mì nhào kỹ (nếu không đủ nước bó xôi thì thêm nước lã) nắm bột với nhân bánh. Luộc chín bánh. Công thức này còn tiện lợi cho trường hợp cần tăng cường chức năng tình dục.
Sản phụ táo bón, xây xẩm do âm huyết bất túc: rau bó xôi 250g, gan heo 100g; rau bó xôi cắt đoạn, gan heo thái lát mỏng ướp gia vị và bột năng chừng 10 phút. Đổ 1 bát nước lạnh vào nồi nấu sôi cho rau bó xôi, ít dầu, nước nấu đến khi rau chín rồi mới cho gan vào nấu gan chín.
Rau bó xôi
Rau bó xôi
Bổ âm nhuận phế, hạ huyết áp cao, dưỡng huyết, chỉ huyết: rau bó xôi 300g, với 15g gừng tươi, 10g hành, 10g xì dầu, 10g dầu vừng, 6g muối, 5g tỏi. Tỏi gừng giã nhuyễn vắt lấy nước, hành tỉa hoa, rau bó xôi nhúng nước sôi vắt ráo nước. Cho tất cả vào trộn đều. Ngày ăn 2 lần với cơm.
Huyết áp cao đỏ mặt (hỏa bốc) nhức đầu: rau bó xôi lượng tùy ý rửa sạch bỏ vào nước sôi 2 -3 phút quấy lên vớt ra. Lấy con sứa biển rửa sạch thái nhỏ nhúng qua nước sôi. Cho hai thứ trên vào dầu vừng, ít muối, gia vị trộn để ăn.
Chữa huyết áp cao: rau bó xôi 250g, rau cần 250g cả 2 rửa sạch, bỏ rễ, thái khúc ngâm nước sôi 2 - 3 phút vớt ra cho vào tô nêm dầu vừng gia vị trộn để ăn với cơm hoặc để nấu cháo.
Bổ âm dưỡng huyết, chữa huyết áp cao: rau bó xôi 300g, mực tươi 300g, tỏi 20g, xì dầu 10g, dầu 50g, hành 10g, muối 5g, rau bó xôi cắt đoạn 5cm, mực tươi cắt đoạn 4cm. Đổ dầu, phi thơm hành tỏi cho mực vào trước xào sơ, rồi cho rau và các thứ gia vị vào xào chín. Ngày 1 lần ăn với cơm.
Tư âm dưỡng tâm, thanh nhiệt, tiêu độc: rau bó xôi 300g, trứng muối 2 quả, gia vị. Đặt nước sôi bỏ trứng muối bóc vỏ thái lát vào rồi cho rau bó xôi cắt đoạn vào tiếp cùng gia vị. Nấu canh ăn với cơm. Còn dùng trường hợp gan nhiễm mỡ.
Vị âm bất túc, đau nóng rát thượng vị, miệng khô không muốn ăn, thích uống nước, táo bón: rau bó xôi 200g thái sẵn, lấy đậu phụ 200g giã nhuyễn, trộn với 50g thịt heo xay, gia ít nước, tinh bột, muối, trộn với trứng gà (1 quả) vắt thành viên thả vào nước sôi nấu chín, rồi cho rau bó xôi vào.
Kiện tỳ, tiêu thũng trị suy nhược cơ thể: rau bó xôi 200g, nhân sâm (hoặc đảng sâm) 40g, thịt lợn 100g, bột mì hoặc bột gạo, gừng, thành hồ tiêu, dầu, tương, dầu thơm, muối. Làm như trên.
Chữa suy nhược thần kinh và thể lực, dưỡng sức, chống già lão: rau bó xôi sống, giã lấy nước uống hoặc nấu chín, hoặc lấy dịch ép pha rượu uống. Có thể phối hợp với cải soong.
Chữa khát nước táo bón của người bị đái tháo đường90g rau bó xôi, 10g mộc nhĩ trắng, nấu nước uống.
Rau bó xôi xào thịt bò
Rau bó xôi xào thịt bò
Chữa thiếu máu, rối loạn tiêu hóa, bệnh đường hô hấp: 100g rau bó xôi cho vào bát với 200ml nước đun cách thuỷ 10 phút, uống vào buổi sáng, trưa.
Bổ âm trị ho, hạ huyết áp: rau bó xôi 200g ngân nhĩ 20g, tỏi 10g hành 10g, dầu ăn 30g, gừng 5g. Muối 5g. Rau cắt đoạn 5cm dùng nước sôi luộc chín để ráo nước. Ngân nhĩ bổ cuống, rang sơ, xé nhỏ. Cho cùng gia vị vào xào. Ngày ăn 2 lần với cơm.
Lưu ý: tránh dùng rau bó xôi cho những người có các bệnh sỏi thận, sỏi mật, người hay đi ngoài lỏng vì nó chứa nhiều canxi.
Thành phần hóa học: trong 100g rau bó xôi có 500mg natri, 375mg kali, 49mg canxi, 37mg photpho, 37mg magnesi, 29mg sulfur, 0,5mg mangan, 0,45mg kẽm, 2-5mg sắt, 0,13mg đồng, còn có iod, arsen, nicken… Các vitamin cũng phong phú như: B, C, tiền sinh tố A (caroten), B9(acid folic) B12. Các dưỡng chất: protid 2g, glucid 7g, lipid 0,5g, Nước 90%, chất xơ 0,7g. Hoạt chất là spiacin, arginin, lysin clorophil…
Do bó xôi giàu chất sắt kèm vitamin C nên phát huy tốt tác dụng chữa thiếu máu.

BS. PHÓ THUẦN HƯƠNG

Cỏ mật cá giải độc

Cỏ mật cá còn có tên khác là mật đất, thằm ngăm đất, sản đắng, người Thái gọi là co kham đin... thuộc họ hoa mõm sói. Là loài cây thân cỏ, sống hằng năm cao khoảng 20cm, phân rất nhiều nhán. Lá mọc đối, có khía răng, cuống dài, có rìa cánh. Hoa mọc thành chùm ở kẽ lá. Quả nang dẹt, nằm trong đài còn lại, trông giống con hến. Hạt hình trụ, màu vàng, hơi thắt ở giữa. Toàn cây có vị rất đắng, do đó có tên là “mật đất” hay “mật cá”. Mùa hoa quả vào tháng 9 - 11. Cây mọc hoang dại ở những nơi ẩm mát, ở khắp các miền rừng núi nước ta.
Bộ phận dùng làm thuốc là toàn cây, có thể thu hái quanh năm, nhưng tốt nhất là mùa hạ; phơi hay sấy khô, bảo quản nơi khô mát để sử dụng dần.
Cỏ mật cá giải độc
Cỏ mật cá có tác dụng thanh nhiệt giải độc.
Một số bài thuốc thường dùng
Bài 1: Chữa kém ăn, mất ngủ: Cỏ mật cá, bá tử nhân (trắc bách diệp), hạt táo chua (lấy nhân sao già), hoài sơn, hạt sen, mạch môn mỗi vị 10g. Tất cả cho vào ấm đổ 800ml nước, sắc còn 250ml nước, chia 2 lần uống trong ngày. Dùng liền 10 ngày.
Bài 2: Chữa đau bụng do giun: Cỏ mật cá 30g, bỏ gốc, rửa sạch, cho vào ấm đổ 500ml nước, sôi, đun nhỏ lửa còn 150ml nước đặc, uống lúc đói bụng, dùng liền 3 ngày.
Bài 3: Ăn uống khó tiêu, tăng cường tiêu hóa: Cỏ mật cá sao cho thơm 100g, rượu trắng 1 lít, đường hay mật ong 300g. Cho cỏ mật cá vào bình, đổ rượu, mật ong vào ngâm, mỗi ngày lắc 1 lần, ngâm trong 15 ngày trở lên. Mỗi ngày uống 1 chén con (khoảng 20ml) trước bữa ăn cơm.
Bài 4: Chữa tiểu tiện sẻn đỏ do nhiệt: Cỏ mật cá tươi, chừng 1 nắm (khoảng 20 - 30g), sắc nước uống trong ngày. Rửa sạch, đổ 700ml nước đun nhỏ lửa còn 250ml nước đặc, uống lúc đói bụng, dùng liền 10 ngày.
Bài 5: Chữa thiếu máu, người mệt mỏi, kém ăn (có thể dùng cho sản phụ sau sinh): Cỏ mật cá 10g, sâm đại hành 10g, nghệ vàng 20g. Mật cá rửa sạch cho 800ml nước đun nhỏ lửa còn 200ml; sâm đại hành và nghệ vàng thái nhỏ, sấy khô, tán bột, uống cùng với nước sắc cỏ mật cá. Ngày 1 lần, trước ăn 30 phút, dùng liên tục 7 - 10 ngày.

Bác sĩ Trần Thị Hải

Món ăn - bài thuốc dùng sâm cau

Theo đông y, sâm cau có vị cay, tính ấm, hơi có độc, vào kinh thận, tác dụng ôn bổ thận khí, tráng dương, ôn trung, táo thấp, tán ứ, trừ hàn thấp, mạnh gân cốt, điều hòa tiêu hóa...
Sâm cau còn là ngải cau, tiên mao, cồ nốc lan, tên khoa học Curculigo orchioides Gaertn, thuộc họ Tỏi voi lùn (Hypoxidaceae).
Sâm cau là loại cây thảo, sống lâu năm, cao 20 - 30cm, hay hơn. Lá 3 - 6, hình mũi mác hẹp, xếp nếp và có gân như lá cau, dài 20 - 40cm, rộng 2,5 - 3cm, cuống lá dài khoảng 10cm. Thân rễ hình trụ dài, mọc thẳng, dạng củ to bằng ngón tay, thót lại ở hai đầu, mang nhiều rễ phụ có dạng giống thân rễ, vỏ thô màu nâu, trong nạc màu vàng ngà. Cụm hoa 3 - 5, hoa nhỏ màu vàng, mọc trên một trục ngắn nằm trong những lá bắc lợp lên nhau. Quả nang, thuôn, dài 1,2 - 1,5cm, chứa 1 - 4 hạt.
Mùa hoa quả: tháng 5 - 7.
Sâm cau mọc hoang trên các đồi cỏ ven rừng núi của một số tỉnh ở miền Bắc Việt Nam và cũng tìm thấy trên vùng đồi núi cao ở Lâm Đồng.
Cây sâm cau
Cây sâm cau
Bộ phận dùng làm thuốc là thân rễ (căn hành), có tên dược liệu là tiên mao (Rhizoma Curculiginis). Người ta thu hái quanh năm, tốt nhất vào mùa thu. Đào lấy củ về, loại bỏ những rễ con, rửa sạch, cạo bỏ vỏ ngoài, ngâm nước vo gạo một đêm để khử độc, rồi phơi hoặc sấy khô.
Trong thân rễ sâm cau có chứa tinh bột, chấy nhầy, tanin, acid béo, beta-sitosterol, stigmasterol và các hợp chất flavonoid, các chất thuộc nhóm cycloartan, triterpenic, cycloartan glycosid là curculigosaponin (A, B, C, D).
Sâm cau là dược thảo có chứa steroid thiên nhiên, có tác dụng dạng testosteron (một nội tiết tố sinh dục nam).
Dược lý học hiện đại ghi nhận tiên mao có tác dụng chống oxy hóa, có khả năng làm nâng cao hệ miễn dịch, tăng cường năng lực hoạt động của tuyến sinh dục nam, tăng cường khả năng thích nghi của cơ thể trong điều kiện thiếu dưỡng khí hoặc môi trường có nhiệt độ cao, tăng cường hoạt động của tim, làm giãn mạch vành, bảo vệ gan, kháng viêm, chống huyết khối, chống nấm, chống co giật, giúp trấn tĩnh, giảm đau, cải thiện làn da, tăng cường hoạt động cơ bắp, chống lão hóa, giúp phòng chống đái tháo đường, ung thư.
Theo Đông y, sâm cau có vị cay, tính ấm, hơi có độc, vào kinh thận, tác dụng ôn bổ thận khí, tráng dương, ôn trung, táo thấp, tán ứ, trừ hàn thấp, mạnh gân cốt, điều hòa tiêu hóa.
Thường dùng chữa nam giới thận dương hư suy, tinh lạnh, số lượng tinh ít, liệt dương, khí lực giảm, tay chân yếu mỏi, bệnh suyễn, viêm gan vàng da; phụ nữ tử cung lạnh, khí hư bạch đới, tiểu đục, loãng xương sau mãn kinh; người cao tuổi thường bị tiểu đêm, tiểu són, lạnh bụng, lưng gối lạnh đau, phong thấp, viêm khớp mãn tính, vận động khó khăn, suy nhược thần kinh.
Ngày dùng 6 - 12g, dùng riêng hoặc phối hợp với các vị thuốc khác. Dạng thuốc sắc hoặc ngâm rượu để uống.
Một số bài thuốc có dùng sâm cau
Chữa hen, tiêu chảy: rễ sâm cau phơi khô, xắt lát mỏng, nhỏ, sao vàng.
Dùng 12 - 16g, nấu với 250ml nước, sắc còn 50ml, uống một lần trong ngày, trước bửa ăn.
Chữa tê thấp, đau nhức toàn thân: rễ sâm cau, hà thủ ô đỏ (chế đậu đen), hy thiêm thảo (cỏ đĩ), mỗi thứ 20g, xắt ỏng, nhỏ, ngâm với 500ml rượu trắng, trong 7 - 10 ngày (hoặc càng lâu càng tốt).
Ngày uống hai lần, mỗi lần 30ml, trước bữa ăn.
Chữa sốt xuất huyết: sâm cau 20g (sao đen), cỏ mực 12g, trắc bá diệp 10g (sao đen), chi tử 8g (sao đen).
Nấu với 600ml nước, sắc còn 200ml, chia làm 2 - 3 lần uống trong ngày, trước bữa ăn.
Sâm cau
Sâm cau
Chữa liệt dương do rối loạn thần kinh chức năng: sâm cau 20g, sâm bố chính, trâu cổ (sung thằn lằn), câu kỷ tử, ngưu tất, tục đoạn, thạch hộc, hoài sơn, ba kích thiên, mỗi thứ đều 12g; nữ trinh tử, ngũ gia bì mỗi thứ 8g.
Tất cả rửa sạch, xắt lát mỏng, nhỏ, phơi hoặc sấy khô, nấu với 750ml nước, sắc còn 300ml, chia 2 - 3 lần uống trong ngày, trước bữa ăn.
Hoặc dùng: sâm cau 20g, ba kích, phá cố chỉ, hồ đào nhục (óc chó), thục địa, mỗi vị 16g, tiểu hồi hương 4g. Nấu với 750ml nước, sắc còn 250ml, chia 2 lần uống trong ngày, trước bữa ăn.
Bài thuốc “Nhị tiên thang” gồm: sâm cau (tiên mao), dâm dương hoắc (tiên linh tỳ), đương quy, ba kích, mỗi thứ 12g. Nấu với 750ml nước, sắc còn 250nl, chia 2 lần uống trước bữa ăn.
Dùng chữa bệnh cao huyết áp, thích hợp với nam giới bị liệt dương do thận dương suy, phụ nữ trong thời kỳ mãn kinh.
Một số món ăn - bài thuốc có dùng sâm cau
Thịt gà nấu sâm cau:
Nguyên liệu: thịt gà 250g, sâm cau 15g, dâm dương hoắc 15g. Gia vị các loại.
Cách làm: thịt gà rửa sạch, cắt miếng vừa ăn, ướp gia vị, để khoảng 20 phút cho thấm. Hai loại dược liệu rửa sạch. Tất cả cho vào nồi đất, nấu với lượng nước vừa đủ, đến khi thịt gà chín mềm. Nêm lại gia vị vừa ăn. Ăn khi còn nóng.
Tác dụng: bổ thận dương, bổ khí huyết, tăng cường sinh lực, trừ phong thấp. Rất có ích cho người bị rối loạn cương dương thể thận dương hư, đau lưng mỏi gối.
Rượu tiên mao:
Nguyên liệu: tiên mao (phơi sấy khô, xắt lát mỏng, phơi sấy khô, sao vàng) 50g, rượu gạo 500ml.
Cách bào chế: cho tiên mao vào rượu ngâm trong 7 - 10 ngày (hằng ngày lắc nhẹ bình ngâm 1 - 2 lần) là được.
Ngày uống 2 lần vào bữa ăn, mỗi lần uống khoảng 30ml.
Rượu này có tác dụng bổ thận dương, trừ phong thấp. Thường dùng chữa liệt dương, lưng đau lạnh, phong thấp, thần kinh suy nhược.
Sâm cau dùng liều cao và kéo dài sẽ gây cường dương mạnh, dẫn tới hao tổn tinh lực. Những người có thể trạng âm hư hỏa vượng: người gầy, da khô, lòng bàn tay bàn chân ấm, thường sốt nhẹ vào buổi chiều, ra mồ hôi trộm, đại tiện táo, tiểu tiện vàng đỏ, nóng bứt rứt trong người, phiền muộn… thì không nên dùng sâm cau.
Những người quá hư yếu, thể trạng kém, cũng không nên dùng.

Lương y Đinh Công Bảy

 
Design by Free WordPress Themes | Bloggerized by Lasantha - Premium Blogger Themes | Laundry Detergent Coupons