This is featured post 1 title
Replace these every slider sentences with your featured post descriptions.Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these with your own descriptions.
This is featured post 2 title
Replace these every slider sentences with your featured post descriptions.Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these with your own descriptions.
This is featured post 3 title
Replace these every slider sentences with your featured post descriptions.Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these with your own descriptions.
Thứ Tư, 18 tháng 3, 2015
Loại quả vừa như ‘thần dược’, vừa rẻ ở Việt Nam
Điều trị và phòng ngừa ung thư: Cà tím đã được tìm thấy là đặc biệt hữu ích trong việc điều trị bệnh ung thư đại tràng do cà tím chứa một lượng lớn chất xơ, chất sơ có xu hướng hấp thụ độc tố và hóa chất có thể dẫn đến sự phát triển của ung thư đại tràng.
Cà tím giúp giảm cân: cà tím có chứa một lượng lớn chất xơ, người ăn sẽ có cảm giác no nhanh và no lâu, và thường ăn ít hơn, từ đó theo thời gian sẽ đạt được hiệu quả giảm cân.
Tốt cho tim: Cà tím giúp hạ thấp lượng cholesterol xấu trong máu, nó chứa nhiều nước và chất xơ nên có tác dụng duy trì sự trao đổi chất trong cơ thể, chất potassium có khả năng kích thích nhịp tim hoạt động tốt hơn, giúp cho tim hoạt động nhịp nhàng và khỏe mạnh hơn
Cà tím cho làn da và mái tóc đẹp hơn: Cà tím có chứa một lượng lớn nước, mà cơ thể chúng ta cấu tạo chủ yếu là nước. Nước có vai trò quan trọng xuyên suốt cơ thể, nhưng nó đặc biệt quan trọng trong việc duy trì làn da và mái tóc khỏe mạnh.
Giúp phòng ngừa và điều trị chứng mất ngủ: Cà tím chứa nhiều magiê có tác dụng Giúp phòng ngừa và điều trị chứng mất ngủ. Đây là phương pháp điều trị bệnh mất ngủ tự nhiên, đơn giản và hiệu quả.
Tăng cường sức đề kháng: quả cà tím có chứa rất nhiều vitamin và chất sắt giúp phòng ngừa bệnh thiếu máu. Ngoài ra, còn có magiê, kali, canxi, vitamin A và C có tác dụng cải thiện cấu trúc xương, giúp tăng cường hệ thống miễn dịch.
Cây gia vị tăng ham muốn, chữa mất ngủ
Chữa mất ngủ: Thì là chứa thành phần vitamin và flavonoids, giúp làm dịu hệ thống thần kinh và cũng giúp bạn ngủ tốt hơn. Nên những người bị rối loạn liên quan đến hệ thần kinh nên ăn thì là
Tốt cho tiêu hóa: Nghiên cứu cho thấy rằng thì là giúp tiết ra dịch mật, nên rất tốt cho quá trình tiêu hóa, ngoài ra, nó là tốt cho những người bị đau dạ dày
Trị tiêu chảy: Nếu bạn đang bị tiêu chảy do nhiễm trùng hoặc khó tiêu, bạn có thể thử lá thì là như một phương thuốc trị bệnh tại nhà vì thì là làm dịu đường ruột, và còn giúp chống lại một số bệnh nhiễm trùng.
Chữa đau mắt bằng hạt thì là: ngâm hạt thì là vào nước sôi trong một vài phút, nhắm mắt lại và đặt túi hạt thì là ấm lên mắt 15 phút, mắt bạn sẽ giảm viêm. Ngoài ra, hạt thì là còn tốt cho da nữa vì nó giúp chống viêm
Trị bệnh lỵ: Một số nguồn tin cho rằng thì là cũng có thể chống và điều trị bệnh kiết lỵ. Vì vậy, nếu bạn bị kiết lỵ hãy ăn thì là.
Giúp hơi thở thơm mát: Lá và hạt thì là có thể làm thay đổi hơi thở của bạn, vì thì là có mùi thơm và chống vi khuẩn. Các vi khuẩn trong miệng sẽ bị tiêu diệt, nhờ vào tính kháng khuẩn của rau thì là.
Tốt cho hệ hô hấp: Một trong những lợi ích sức khỏe của rau thì là lá là làm sạch hệ thống hô hấp của bạn và giúp bạn thoát khỏi tình trạng dị ứng.
Tăng ham muốn và tăng cường sức khỏe xương: Thì là giúp tăng ham muốn tình dục. Nó cũng giúp làm khỏe răng và xương.
Giúp chu kì kinh nguyệt đều hơn: Nghiên cứu cho thấy rằng thì là có chứa tinh dầu có thể khiến chu kỳ kinh nguyệt ở phụ nữ đều hơn.
Theo VTC
Món ăn thuốc từ bạch phục linh trị nhiều bệnh
Bạch phục linh còn có tên là bạch linh, phục linh, là một loại nấm lỗ, phát triển bao quanh rễ cây thông già. Hiện nay phục linh vừa làm nấm ăn vừa làm thuốc.
Phục linh có các triterpenoid (eburicoic acid, pachymic acid,...); steroids (ergosterol), các acid amin (lecithin, choline, adenine) và các polysaccharid (pachyman)... Theo Đông y, phục linh vị ngọt nhạt, tính bình. Vào kinh tâm, phế, tỳ và thận. Có tác dụng lợi thủy trừ thấp, kiện tỳ hòa vị, bổ tâm an thần. Dùng cho trường hợp tiểu ít, tiểu dắt tiểu buốt, phù nề, nôn, tiêu chảy, hồi hộp tim nhịp nhanh mất ngủ. Hằng ngày dùng 30g dưới dạng nấu hầm, chưng, sắc hãm.
Bạch phục linh là một loại nấm mọc hoại sinh trên rễ cây thông.
Rượu phục linh thần khúc: bột phục linh, thần khúc, men rượu, liều lượng thích hợp trộn đều uống với nước sôi (hoặc bột phụ linh thần khúc uống với nước cái rượu). Dùng cho các trường hợp đau đầu chóng mặt (đầu phong hư huyễn).
Cháo đậu ý dĩ phục linh: bột phục linh 20g, xích tiểu đậu 50g, ý dĩ 100g cùng đem nấu cháo, cháo được thêm đường trắng cho ăn. Dùng cho các trường hợp tiêu chảy vàng da.
Dê nướng tẩm phục linh sa nhân: phục linh 60g, sa nhân 30g, thịt dê 100 - 150g. Dược liệu tán bột mịn thêm chút muối đem ướp đều vào thịt dê, rồi đem nướng chín. Ăn và uống ít rượu khai vị. Dùng cho các trường hợp di tinh hoạt tinh di niệu ở nam giới.
Cháo gạo nếp phục linh: phục linh 30g, gạo nếp 60g. Phục linh tán bột đem nấu cháo với gạo. Mỗi ngày một lần, chia 2 lần ăn. Dùng cho các trường hợp viêm xuất tiết tràn dịch phế mạc (triệu chứng đầy tức đau khi xoay chuyển vùng ngực, thở gấp, ho suyễn.
Thịt nạc hầm cà rốt phục linh bạch truật: thịt lợn nạc 250g, cà rốt 300g, phục linh 15g, bạch truật 20g. Cà rốt rửa sạch thái lát; dược liệu gói trong vải xô, gừng tươi 1 củ đập giập. Tất cả cho vào nồi thêm nước hầm chín, bỏ bã thuốc thêm gia vị là được. Ăn ngày 1 lần, đợt dùng liên tục 5 - 7 ngày. Món này rất tốt cho người bị viêm teo thị thần kinh.
Cháo phục linh: phục linh tán bột 15g, gạo tẻ 100g, muối ăn bột tiêu gia vị khác liều lượng thích hợp. Gạo tẻ nấu cháo, cháo chín cho bột phục linh tiếp tục nấu sôi đều chín nhừ, thêm gia vị, ăn hằng ngày. Dùng cho người cao tuổi phù nề, béo mập, tăng mỡ máu, tiểu ít, dắt, tiêu chảy.
Bánh giúp tiêu hóa: đảng sâm 40g, phục linh 40g, hoài sơn 40g, liên nhục 40g, khiếm thực 40g, gạo nếp 300g, gạo tẻ 300g. Nghiền chung thành bột mịn, thêm 100g mật, 280g đường trắng, trộn đều, hấp đồ cho chín, cắt thành từng thỏi bánh. Mỗi ngày ăn vài thỏi bánh vào sáng sớm. Món này rất tốt cho trẻ tỳ vị hư nhược, tiêu hóa kém, gầy gò, vàng vọt, bụng ỏng và tiêu chảy.
Cá chép hầm phục linh đậu đỏ: cá chép 1 con (chủ yếu lấy phần nạc), đậu đỏ nhỏ hạt 50g, phục linh 30g. Tất cả hầm chín nhuyễn lấy nước uống. Tác dụng lợi niệu trừ thấp. Dùng cho các trường hợp phù nề toàn thân.
Kiêng kỵ: Người bị thoát vị, sa dạ dày trực tràng (tỳ hư hạ hãm); hư hàn di hoạt tinh, người đi tiểu quá nhiều không dùng nhiều. Không ăn giấm trong thời gian dùng phục linh.
TS. Nguyễn Đức Quang
Rễ thanh uyển trị hen phế quản
Thanh uyển thuộc họ Cúc (Adteraceae), tên khác là tử uyển, dã ngưu bàng, là một cây thảo, sống lâu năm, cao 1 - 1,2m. Thân mọc thẳng, phân cành nhiều có lông thưa, cuống lá dài có rìa bên; lá phía trên mọc so le, nhỏ và hẹp hơn gần như không cuống. Cây mọc tự nhiên ở Cao Bằng, Lạng Sơn. Bộ phận dùng làm thuốc của thanh uyển là rễ, thu hái quanh năm.
Dược liệu thanh uyển có vị đắng, cay, tính ôn, không độc có tác dụng nhuận phế, hóa đờm, chỉ khái, hạ khí, chữa ho có đờm, hen suyễn, viêm họng, viêm phế quản cấp và mạn tính. Liều dùng hàng ngày 6 - 12g dưới dạng thuốc sắc hoặc hoàn tán. Thường dùng phối hợp với các vị thuốc khác theo những phương thức sau:
Chữa ho, hen có đờm khò khè: thanh uyển 12g, bách bộ 12g, cát cánh 8g, mạch môn 8g, kinh giới 8g, trần bì 6g, cam thảo dây 6g. Tất cả thái nhỏ, phơi khô, sắc với 400ml nước còn 100ml, uống làm 2 lần trong ngày.
Cây và rễ thanh uyển
Chữa ho lâu ngày, viêm phế quản mạn tính: thanh uyển 10g, khoản đông hoa 10g, thổ bốn mẫu 10g, hạnh nhân 10g, cát cánh 10g, cam thảo 3g. Sắc uống ngày 1 thang.
Chữa ho gà ở giai đoạn hồi phục: thanh uyển 8g, bách bộ 8g, rễ quả lâu 16g, sa sâm 12g, mạch môn 12g. Sắc uống trong ngày.
Chữa lao phổi: thanh uyển 12g, bạch truật 12g, đảng sâm 12g, cỏ nhọ nồi 12g, thổ phục linh 8g, bách hợp 8g, cam thảo 6g, ngũ vị tử 6g, thổ bối mẫu 6g, sắc uống ngày 1 thang.
Chữa hen phế quản: thanh uyển 12g, tế tân 12g, khoản đông hoa 12g, đại táo 12g, ma hoàng 10g, ngũ vị tử 10g, bán hạ chế 8g, xạ can 6g, gừng sống 4g. Sắc uống trong ngày.
Chữa suy nhược cơ thể do phế hư: thanh uyển 12g, ngũ vị tử, tang bạch bì, thục địa, đảng sâm, hoàng kỳ mỗi vị 10g. Sắc uống trong ngày.
DS. Huyền Hoa
Hồng táo bổ khí, dưỡng huyết
Hồng táo là quả phơi hay sấy khô của cây táo tàu. Hồng táo có màu đỏ để phân biệt với loại táo màu đen gọi là đại táo. Trong Thần nông bản thảo kinh nói: “Cửu phục khinh thân diên niên”, có nghĩa là ăn táo nhiều làm cho cơ thể thanh thoát, khỏe mạnh sống lâu. Dưới đây xin giới thiệu một số bài thuốc, món ăn có sử dụng hồng táo.
Hồng táo hầm thịt thỏ: hồng táo 15 quả, thịt thỏ 200g. Cho hồng táo, thịt thỏ vào nồi hầm chín, cũng có thể cho vào nồi đất hầm nhừ, cho gia vị vừa đủ rồi ăn. Tác dụng: bổ khí dưỡng huyết, thích hợp với người mắc bệnh ban xuất huyết chảy máu.
Hồng táo hầm thịt thỏ.
Cháo dưỡng tâm: nhân sâm 10g, hồng táo 10 quả, mạch đông 10g, gạo nếp 100g, phục thần 10g, đường đen vừa đủ. Cho sâm, táo, mạch đông, phục thần vào nồi nấu lấy nước, cho gạo nếp vào nấu thành cháo sau đó cho lượng đường đen vừa đủ là được. Tác dụng: dưỡng huyết bổ tim, thích hợp với người bị suy lao do tâm huyết hư.
Cháo đan sâm: đan sâm 30g, gạo nếp 50g, hồng táo 3 quả, đường đỏ 50g. Đan sâm cho nước vào nấu canh, chắt bã sau đó cho gạo nếp, hồng táo và đường đem nấu thành cháo, ăn nóng hoặc ấm, ngày 2 lần, 1 liệu trình là 10 ngày, cách 3 ngày lại uống. Tác dụng: hoạt huyết khứ ứ, phù hợp với người bị bệnh mạch vành.
Hồng táo lạc nhân: hồng táo 50g, lạc nhân 100g, đường cát đỏ 50g. Rửa sạch hồng táo, ngâm bằng nước ấm; lạc nhân luộc qua một chút, để nguội bóc vỏ; cho hồng táo và vỏ lạc vào nồi nấu, cho thêm ít nước lạnh, đun nhỏ lửa khoảng 30 phút, vớt vỏ lạc nhân ra, cho đường cát đỏ vào, đợi đường tan hết là được. Tác dụng: bổ tỳ sinh huyết, phù hợp với người bị thiếu máu do thiếu sắt.
Hồng táo xào hạt dẻ, thịt gà: hồng táo 15 quả, hạt dẻ 150g, gà 1 con. Gà làm sạch, thái gà thành miếng xào lửa to, cho thêm ít gia vị và nước đun đến khi gà chín cho hồng táo, hạt dẻ vào om nhừ rồi ăn. Tác dụng: bổ tỳ thận, phù hợp với người khí suy do huyết áp thấp.
Lương y Hoài Vũ
Quất - Cây thuốc trị ho
Quả quất giàu vitamin C, tinh dầu, chất đường, chất xơ pectin, một số muối khoáng có tác dụng dinh dưỡng và phòng chữa bệnh. Quả quất chín thường dùng thay chanh, lá quất được dùng khi không có lá chanh. Chúng đều có tác dụng chữa bệnh hô hấp và tiêu hóa.
Quất hấp đường phèn là vị thuốc trị ho trong những ngày trời lạnh rất hiệu quả.
Một số cách dùng quả quất làm thuốc:
Chữa ho: quả quất chín 10g, hoa hồng bạch 10g, hạt chanh 10g. Tất cả rửa sạch cho vào bát cùng với một ít mật ong hay đường phèn, đem hấp cơm khoảng 20 phút, lấy ra nghiền nát, chắt lấy nước để uống.
Chữa ho gà: quất 10 quả, gừng tươi 6g, thiên trúc hoàng 6g. Tất cả sắc lấy nước uống ngày 1 lần.
Ho do phế nhiệt: dùng quả quất với củ cải ép lấy nước uống.
An thần, giảm ho: quất 2 quả (bỏ vỏ và hạt), bột ngó sen một ít, đường 100g, một ít hoa quất. Tất cả nấu chè ăn.
Nghẹn hoặc thỉnh thoảng bị nghẹn: vỏ quất 20g sấy khô tán bột, sắc lấy nước uống.
Nôn: vỏ quất sao 9g, gừng tươi nướng 3 lát. Săc uống.
Cảm mạo: lá quất 30g rửa sạch cho vào nồi, đổ 3 bát nước sắc còn 1 bát, hòa với ít đường cho dễ uống, uống nóng.
Trị trong ngực khí tắc, ngắn hơi: quất bì 600g, chỉ thực 120g, sinh khương 300g. Các vị rửa sạch cho vào nồi, đổ nửa lít nước sắc còn 200ml, chia 2 lần uống ấm.
Trị nôn, chân tay lạnh buốt: quất bì 160g, sinh khương 300g. Các vị rửa sạch cho vào nồi, đổ 700ml nước sắc lấy 300ml, chia uống ấm trong ngày.
Trị mỗi khi ăn bị ợ hơi: quất bì 40g ngâm nước bỏ cùi trắng, sấy khô, nghiền nhỏ, cho vào nồi, đổ 1 bát nước sắc còn nửa bát, uống ấm.
Trị áp-xe vú sau đẻ: quất bì 40g, cam thảo 4g, sắc uống.
Chữa viêm tuyến vú cấp: quất bì 40g, cam thảo 8g. Sắc uống chia 2 lần trong ngày.
Lương y Minh Chánh
Thứ Sáu, 13 tháng 3, 2015
DƯỢC TÍNH CỦA CÂY CHÙM NGÂY
DƯỢC TÍNH CỦA CÂY CHÙM NGÂY
CTQ vừa nhận được e.mail cám ơn của Giám đốc một công ty chuyên ngành trồng cây gỗ quý hiếm, cây nhiên liệu sinh học và du lịch sinh thái ở Miền Tây Nam bộ về việc CTQ đã tận tình trao đổi, góp ý và giới thiệu địa chỉ để Cty liên hệ mua giống dược liệu quý đặc hữu ở Miền Trung về thử nghiệm di thực với mục đích bảo vệ nguồn gen quý hiếm và sản xuất cung cấp cho thị trường. Giám đốc Cty còn cho biết “Cty muốn đầu tư trồng cây Moringa (Chùm ngây) với diện tích lớn, vì nghe nói đó là cây lương thực đồng thời cũng là cây dược liệu quý, nhưng chưa có thông tin nhiều về dược tính chữa bệnh của cây Moringa cũng như nơi tiêu thụ. Vì vậy mong tạp chí CTQ vui lòng góp ý”. CTQ xin cung cấp thông tin quý Cty yêu cầu như sau:
Về cây Moringa Oleifera vào tháng 10/2007 có một tờ nhật báo đăng bài nói về cây này do một Việt kiều ở Mỹ mua một số hạt giống đầu tiên gửi về giúp dân trồng xóa đói giảm nghèo nên gây xôn xao dư luận một dạo (có người còn đặt cho cái tên cây “Thần diệu”, cây “Độ sinh” nghe khá hấp dẫn). Nhưng thật ra, cây thuốc này có ở nước ta đã lâu. Trước đó, từ năm 1996, TS.Võ Văn Chi soạn Từ điển Cây thuốc Việt Nam đã có đưa vào dưới tên Chùm ngây - Moringa Oleifera Lam., thuộc họ Chùm ngây- MORINGACEAE. Đây là cây nguyên sản ở Ấn Độ, được trồng ở nhiều nước nhiệt đới. Thường trồng ở các tỉnh phía Nam nước ta từ Quảng Nam, Đà Nẵng, qua các tỉnh Nam Trung bộ đến tận Kiên Giang (Phú Quốc), trong các vườn gia đình làm rau ăn. Người ta thu hái các bộ phận của cây quanh năm. Dưới đây xin trích giới thiệu tính vị, tác dụng của Chùm ngây theo tài liệu của TS.Võ Văn Chi.
Mô tả: Cây gỗ nhỏ, cao tới 10m, thường là ba lần lông chim, có 3-9 đôi lá chét hình trứng, mọc đối. Hoa trắng, có cuống, hơi giống hoa đậu, mọc thành chùy ở nách lá có lông tơ; lá bắc hình sợi. Quả nang treo, có 3 cạnh, dài 25-30 cm, hơi gồ lên ở chỗ có hạt, khía rãnh dọc. Hạt màu đen, to bằng hạt đậu Hà lan, tròn, có 3 cạnh và 3 cánh màu trắng dạng màng.
Thành phần hóa học: Vỏ rễ chứa gôm và 2 alcaloit là Moringin và Moringinin; Moringin tương đồng với Benzylanin cũng có trong vỏ thân; trong vỏ thân còn có Beta-sitosterol. Toàn cây chứa một lacton gọi là Pterygospermin, một chất kháng khuẩn có tác dụng đối với vi khuẩn gram + và gram - và cả vi khuẩn ưa axit. Hoa chứa base vô định hình. Hạt chứa 33-38% một thứ dầu không màu, vị dịu, lâu hỏng, dùng ăn được và dùng trong hương liệu để định hương một số hoa.
Tính vị, tác dụng: Rễ có tính kích thích, chuyển máu, gây trung tiện, làm dễ tiêu hóa, trợ tim và bổ tuần hoàn, làm dịu; có tác dụng tốt đối với hệ thần kinh và gây sảy thai cũng như vỏ cây. Quả có tác dụng làm giảm đau; hoa kích thích và kích dục; hạt làm dịu cơn đau. Gôm (nhựa) từ thân cây chảy ra, màu trắng, cũng có tác dụng làm giảm đau nhẹ.
Công dụng: Nhiều bộ phận của cây như quả, lá non, hoa, các nhánh non đều có thể dùng làm rau ăn nhưng phải nấu chín. Ở Lào người ta cũng dùng các nhánh non có hoa và quả xanh dùng nấu ăn như rau. Ở Campuchia người ta dùng lá và quả vào việc nấu món somlo. Lá cây có tính kích thích tiêu hóa và cây có tính lợi tiểu nên cũng được sử dụng trong điều trị bệnh lậu. Rễ là một bộ phận được sử dụng làm thuốc ở nhiều nước. Tại Ấn Độ, rễ được dùng như là chất kích thích trong các cơn đau do bị liệt và sốt từng cơn, dùng trong động kinh, là chất chuyển máu (hoạt huyết) trong bệnh liệt và thấp khớp mạn tính, như là trợ tim và bổ cho tuần hoàn; cũng dùng chế dạng rượu thuốc thường dùng trong khi ngất, choáng váng, suy nhược thần kinh, đau co thắt ruột, icteri và sự đầy hơi. Rễ và vỏ cây cũng dùng gây sảy thai. Vỏ rễ dùng như thuốc chườm nóng làm dịu cơn co thắt. Ở Campuchia, vỏ cây được dùng làm thuốc cho phụ nữ sau khi sinh đẻ uống như là thuốc chóng lại sức. Ở Thái lan, vỏ thân được dùng làm thuốc thông hơi (phá khí). Quả được dùng trị bệnh đau gan và tỳ, đau khớp, sài uốn ván và chứng liệt. hạt dùng trị bệnh hoa liễu; dầu từ hạt dùng đắp ngoài trị bệnh thấp khớp. Gôm (nhựa từ cây chảy ra) dùng chữa đau răng, phối hợp với dầu vừng làm chế phẩm nhỏ tai trị đau tai.
Chúng tôi cũng xin trích thêm một số thông tin nghiên cứu khoa học và kinh nghiệm sử dụng Chùm ngây chữa bệnh theo bài viết của Lương y Nguyễn Công Đức ở khoa YHCT Đại học Y dược TP.HCM:
Nghiên cứu khoa học về Chùm ngây
Theo nghiên cứu của các nhà khoa học về lá Chùm ngây non ở miền Nam nước ta, trong 100 g còn tươi có 6,35 g chất đạm, 1,7 g chất béo, 8 g bột đường, 1,9 g chất xơ, 3,75 g chất khoáng (trong đó phốtpho 50 mg, kali 216 mg, canxi 122 mg, magne 123 mg, đồng 0,1 mg, sắt 16 mg, caroten 6.250 UI), các vitamin B1 0,2 mg, B2 0,21 mg, PP 2,25 mg và C 110 - 220 mg. Như vậy lá Chùm ngây non là loại rau giàu dưỡng chất.
Đa số các nghiên cứu được thực hiện ở Ấn Độ, Philippines và châu Phi... Cây đã được biết đến và dùng hơn nghìn năm nay ở các nước có nền văn minh cổ như Hy Lạp, Ý, Ấn Độ. Hiện nay đang có chương trình khuyến khích trồng Chùm ngây ở 80 quốc gia trên toàn thế giới.
Các bộ phận của cây chứa nhiều khoáng chất quan trọng, giàu chất đạm, vitamin, beta-caroten, axit amin và nhiều hợp chất phenol. Cây Chùm ngây cung cấp một hỗn hợp gồm nhiều hợp chất quý hiếm như zeatin, quercetin, alpha-sitosterol, caffeoylquinic axít và kaempferol.
Theo các nghiên cứu khoa học, lá và hoa còn tươi của cây Chùm ngây có chứa: vitamin C nhiều hơn trái cam 7 lần, canxi nhiều hơn 4 lần và protein gấp 2 lần so với sữa, vitamin A gấp 4 lần so với cà rốt, kali gấp 3 lần chuối.
Cách sử dụng
- Các món canh: nấu canh với tôm, tép, cá trê, thịt nạc... hoặc nấu canh chay với bí ngô, bắp non bào nhỏ và đậu phộng sống giã nát. Sau khi nêm nếm cho vừa ăn, dùng lá Chùm ngây non rửa sạch xắt nhỏ bỏ vào nồi canh khi nước đang sôi trộn đều rồi nhấc xuống ngay không để sôi thêm.
- Trộn dầu giấm: Lá Chùm ngây non và đọt non vừa đủ dùng, rửa sạch, trộn với dầu giấm, ít muối, tiêu, đường. Món sống này không còn mùi hăng của lá. Có thể thêm vào ít cà chua và hành tây.
Kinh nghiệm chữa bệnh bằng Chùm ngây
Thuốc ngừa thai của dân tộc Raglay: cứ 5 ngày thì dùng 2 nắm rễ cây chùm ngây còn tươi (150g) rửa sạch băm nhỏ nấu với 2 lít nước còn nửa lít thuốc chia uống 2 lần trong ngày. Phụ nữ Raglay trong tuổi sinh đẻ nếu uống nước sắc rễ Chùm ngây thì không có con.
Trị tăng cholesterol, tăng lipid máu, tăng triglycerit. Làm giảm axxit uric, ngăn ngừa sỏi oxalat: mỗi ngày dùng 100g rễ tươi (30g khô) rửa sạch, nấu với 1 lít nước sôi 15 phút. Uống cả ngày.
Giúp ổn định huyết áp và đường huyết, bảo vệ gan, trị suy nhược: mỗi ngày dùng 150 g lá Chùm ngây non rửa sạch, giã nát, thêm 300 ml nước sạch, vắt lấy nước cốt (hoặc dùng máy xay sinh tố) thêm 2 muỗng canh mật ong, trộn đều, chia uống 3 lần trong ngày.
Trị u xơ tiền liệt tuyến: rễ Chùm ngây tươi 100 g + lá Trinh nữ hoàng cung tươi 80 g (hoặc rễ Chùm ngây khô 30 g + lá Trinh nữ hoàng cung khô 20 g). Nấu với 2 lít nước còn lại nửa lít. Uống 3 lần trong ngày.
Lắng nước: dùng 2 trái Chùm ngây tươi đã có hột già. Lấy hột giã nát quấy đều 5 phút với 3 lít nước. Để lắng 2 giờ thì có nước trong dùng được.
Lưu ý: Phụ nữ có thai không được dùng cây Chùm ngây.
Với những thông tin vừa cung cấp, rõ ràng Chùm ngây là một cây quý nên khuyến khích mọi nhà trồng làm thuốc, làm rau ăn trong vườn. Tuy nhiên, việc tiến hành trồng đại trà thì theo góp ý của chúng tôi, quý Cty cũng cần cân nhắc và tham khảo thêm nhiều ý kiến của các chuyên gia nông lâm, y dược, nhất là phải có chiến lược sản phẩm hoặc tìm đầu ra tiêu thụ cho chắc chắn. Còn nhớ có một dạo nhà nhà đua nhau trồng cây Hoàn ngọc, phải mua cây giống 5-7 ngàn đồng, nhưng một thời gian cây này mọc lan tràn như cỏ dại trong vườn, phải nhổ bỏ vì dùng không hết xuể. Bài học ốc bươu vàng ngày nào vẫn còn nhức nhối hẳn bà con nông dân chúng ta không quên được. Sơ lược trả lời quý Cty như vậy. Kính chúc quý Cty luôn phát triển và thành đạt..
(CTQ số 113)
(CTQ số 113)


Thứ Tư, tháng 3 18, 2015
doanh nhan