Thứ Sáu, 25 tháng 12, 2015

Cây chìa vôi trị phong tê, ung thũng

Nhân dân ta dùng dây chìa vôi chữa đau đầu, nhức xương, tê thấp. Trong Đông y, thầy thuốc dùng bạch liễm chữa u hạch mọc ở lưng, trường phong, trĩ lậu, lỵ ra máu, trên mặt có nốt phồng, chữa vết loét do đâm chém, đánh đập, làm sinh cơ, giảm đau.
Cây chìa vôi còn gọi là cây đau xương, bạch phấn đằng. Theo từ Hán, bạch là trắng, liễm là thu, nên có tên vị thuốc bạch liễm. Chìa vôi là một loại cây nhỏ, mọc leo, dài chừng 2 - 4m, toàn thân nhẵn, có tua cuốn đơn hình sợi. Lá đơn xẻ thùy chân vịt, phía cuống hình tim, dài và rộng từ 6 - 8cm; những lá phía gốc hình mác, lá phía trên chia 5 - 7 thùy, dài gần bằng nhau, mép hơi có răng cưa. Hoa màu vàng nhạt, mọc đối diện với lá nhưng ngắn hơn, có cuống. Bộ phận dùng làm thuốc là thân, rễ (củ).
Cây chìa vôi.
Theo Đông y, bạch liễm tính đắng, bình, không độc. Công dụng: tả hỏa, tán kết, dùng làm thuốc sưng đau lở loét.
Chủ trị: mụn nhọt lở loét, thu khí kết, giảm đau, trừ nóng, trừ mắt đỏ, trẻ con kinh sợ, động kinh, sốt rét, nữ âm hành sưng, khí hư màu trắng đỏ. Trừ độc của lửa. Nhân dân ta dùng dây chìa vôi chữa đau đầu, nhức xương, tê thấp. Trong Đông y, thầy thuốc dùng bạch liễm chữa u hạch mọc ở lưng, trường phong, trĩ lậu, lỵ ra máu, trên mặt có nốt phồng, chữa vết loét do đâm chém, đánh đập, làm sinh cơ, giảm đau.
Một số bài thuốc có dùng bạch liễm:
- Trị lưng mới mọc ung nhọt: dùng nước trộn bột bạch liễm (chìa vôi) đắp lên nhọt.
- Trị các loại ung thũng: bạch liễm 50g, lê lô 25g, nghiền nhỏ hòa rượu dán, ngày thay 3 lần.
- Trị vết loét không liền miệng: bạch liễm, xích liễm, hoàng bá lượng bằng nhau đều 12g, sao, nghiền; kinh phân 4g trộn đều. Nấu nước hành rửa vết loét rồi rắc, đắp thuốc bột này lên.
- Chữa phong thấp đau nhức xương: bạch liễm (chìa vôi) 20g, dây đau xương 16g, rễ lá lốt 16g. Đổ 500ml nước sắc còn 250ml, chia 3 lần uống trong ngày.
Trong kinh nghiệm của nhân dân Việt Nam thì củ chìa vôi thường được dùng chữa thấp khớp, đau nhức các xương. Thân chìa vôi hơ hay xào nóng dùng đắp lên bụng phụ nữ sau khi đẻ để chữa đau bụng.


NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ
NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ
Gọi cho chúng tôi 0902233317

Cây vòi voi có độc?

Cây vòi voi còn gọi là cẩu vĩ trùng, đại vĩ đạo. Tên khoa học là Heliotropium indicumL., gọi vòi voi vì cụm hoa của cây giống như hình vòi con voi. Theo sách Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam của cố giáo sư Đỗ Tất Lợi, vòi voi có hai tác dụng chủ yếu là chống viêm, giảm đau. Những năm 1961 - 1962, Bệnh viện Hải Dương đã dùng cao rượu vòi voi điều trị cho 856 bệnh nhân bị bong gân, tụ huyết sưng bầm do chấn thương, viêm tấy, chín mé, viêm hạch và đã đi tới một số kết luận:
- Cao rượu vòi voi có tác dụng với những trường hợp viêm hay cương tụ huyết chưa làm mủ. Chỉ cần đắp cao rượu vòi voi trong 3 - 4 ngày, đắp ướt liên tục.
Cây vòi voi.
- Nếu đã có mủ rồi, cao rượu vòi voi không có tác dụng làm tan mủ, nhưng cũng làm cho mủ không lan rộng hơn và làm bớt sưng tấy ở những vùng xung quanh ổ mủ.
- Sau khi chích mủ, nếu băng bằng cao rượu vòi voi, vết thương chóng lành và đỡ đau hơn là băng thường.
- Cao rượu vòi voi đắp lên chỗ sưng làm dịu đau ngay, bệnh nhân có cảm giác mát dịu, dễ chịu, không nhức nhối như khi chưa đắp thuốc.
- Chữa sưng tấy gối với những triệu chứng sau: trước phát bệnh mỏi đầu gối, 3 hôm sau vùng đầu gối đỏ và sưng to lên, người lên cơn sốt nhẹ, không đi lại được. Dùng cây tươi, chặt thành từng đoạn nhỏ, giã cho dập, bỏ vào nồi sao với dấm hoặc với rượu gói vào miếng vải, buộc vào chỗ sưng. Làm như vậy khi có kết quả thì ngừng.
Vòi voi là một vị thuốc chữa tê thấp viêm tấy, mụn nhọt, viêm họng, mẩn ngứa. Dùng trong hay đắp bên ngoài. Ngày uống 15 - 20g tươi. Có người còn dùng làm thuốc điều kinh nhưng liều quá cao có thể gây sảy thai.
Tuy nhiên, người ta phát hiện một số loài vòi voi như H.lariocarpum Fish et Mey chứa ancaloid có nhân pyrolizidinn rất độc đối với gan và gây hủy hoại tổ chức gan, đau bụng tiêu chảy, xuất huyết lan tỏa và có thể gây ung thư. Tính độc này thường không thể hiện ngay khi dùng, mà thường xuất hiện một cách âm ỉ, kéo dài, khó phát hiện. Vì vậy, Tổ chức Y tế thế giới khuyến cáo không nên dùng vòi voi làm thuốc và Bộ Y tế Việt Nam (năm 1985) cũng đã có chỉ thị cần thận trọng khi dùng vòi voi chữa bệnh, mặc dù chỉ dùng ngoài để đắp theo kinh nghiệm cổ truyền: trong các trường hợp tụ huyết bầm tím do chấn thương, viêm tấy áp-xe, sưng vù, sưng khớp, đinh nhọt giai đoạn chưa có mủ. Chú ý không nên dùng cho người già yếu và khi có kết quả nên ngừng ngay.
Từ những thông tin trên, lời khuyên với mọi người dù là thuốc từ cây lá cũng phải có chỉ định thận trọng của thầy thuốc.


NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ
NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ
Gọi cho chúng tôi 0902233317

Dây bạc thau lợi tiểu, điều kinh

Theo Đông y, bạc thau có vị đắng, cay, hơi chua, tính mát. Có tác dụng thanh nhiệt, lợi tiểu, thư cân hoạt lạc, khu phong trừ thấp, điều kinh, chỉ huyết (cầm máu), nhuận phế, tiêu đờm, chỉ khái (làm hết ho).
Theo Đông y, bạc thau có vị đắng, cay, hơi chua, tính mát. Có tác dụng thanh nhiệt, lợi tiểu, thư cân hoạt lạc, khu phong trừ thấp, điều kinh, chỉ huyết (cầm máu), nhuận phế, tiêu đờm, chỉ khái (làm hết ho). Trong dân gian, bà con thường làm thuốc chữa bí tiểu tiện, đái ít, rát buốt, nước tiểu đục, kinh nguyệt không đều, rong kinh, mụn nhọt lở ngứa, sốt rét, viêm khí quản cấp và mạn, ho.
Bạc thau còn có tên gọi khác như bạc sau, bạch hoa đằng, chấp miên, thảo bạc, người Tày gọi là pác túi. Là loại dây leo bò hoặc cuốn. Thân có lông tơ màu trắng bạc, sau nhẵn, vỏ thân màu nâu. Lá nguyên, mọc so le, phiến lá hình bầu dục hay trái xoan, mặt trên nhẵn màu xanh thẫm, mặt dưới có lông dày màu ánh bạc. Cụm hoa hình tán mọc ở kẽ lá, đài hoa hình chén có lông màu ánh bạc. Quả hình cầu, khi chín có màu đỏ, trong chứa 2-4 hạt màu nâu. Cây mọc các tỉnh phía Bắc, từ đèo Hải Vân trở ra. Mọc ở các bờ bụi, nhất là trên triền đồi núi đá vôi.
Dây bạc thau có tác dụng thanh nhiệt, lợi tiểu.

Một số bài thuốc chữa bệnh:
Bài 1: Chữa ho trẻ em: Lá bạc thau 6g, lá chua me 6g, lá xương sông 6g. Tất cả rửa sạch, để ráo nước, giã nát, vắt lấy nước cho trẻ uống (có thể thêm ít đường phèn cho dễ uống).
Bài 2: Chữa kinh nguyệt không đều: Lá bạc thau 10g, rễ xích đồng nam 10g, vỏ thân mía tía 10g, rễ cỏ tranh 10g, rễ móc diều, cỏ hàn the, lá huyết dụ, mỗi vị 8g. Phơi khô, cho vào ấm, đổ ngập nước, sắc nhỏ lửa, còn 300ml chia 3 lần uống trong ngày, uống trước chu kỳ kinh 15 ngày. Hoặc bạc thau 20g, rau dền gai 15g cho vào ấm, đổ 700ml nước, sắc nhỏ lửa, còn 300ml chia 3 lần uống trong ngày, uống trước chu kỳ kinh 15 ngày.
Bài 3: Chữa mẩn ngứa, rôm sảy: Lấy lá bạc thau nấu với nước để tắm, rửa rất hiệu nghiệm.
Bài 4: Chữa rong kinh, rong huyết: Có thể lấy lá bạc thau 20g, ngải cứu 20g, lá bạch đầu ông 20g. Rửa sạch, để ráo nước, giã nát, thêm chút nước vắt lấy nước để uống. Dùng liền 5 ngày. Theo Nam dược thần hiệu, lấy lá bạc thau 40g, rửa sạch, giã nát, thêm ít nước sôi để nguội, vắt lấy nước để uống. Bã đắp lên đỉnh đầu.
Bài 4: Giúp vết thương mau lành miệng: Lá bạc thau khô giã nhỏ mịn, rắc vào vết thương có tác dụng ngừng chảy nước vàng.
Bài 5: Chữa sưng tấy, ứ huyết do ngã, va đập: Lá bạc thau tươi 30g, lá xuyên tiêu 30g, lá dây đòn gánh 30g. Tất cả giã nát, cho vào chảo đảo nóng với ít rượu, đắp lên chỗ sưng đau. Ngày làm 1 lần. Hoặc lá bạc thau 10g, lá quýt rừng 10g. Sắc uống.
Bài 6: Chữa bạch đới do tỳ hư, can uất: Lá bạc thau, lá bấn (bạch đồng nữ), mỗi vị 30g tươi, giã vắt lấy nước cốt uống; hoặc dùng mỗi thứ 12g khô, sắc nước uống, chia ngày 3 lần, 10 ngày một liệu trình.


NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ
NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ

Gọi cho chúng tôi 0902233317



Chữa bệnh bằng cây cúc mẳn

Theo Đông y, cúc mẳn có vị đắng, cay, tính ấm, quy vào các kinh phế, can. Thường dùng chữa ho, viêm phế quản, mẩn ngứa, mụn nhọt, hắc lào, eczema,...
Cây cúc mẳn còn gọi là cóc mẳn, cỏ the, thạch hồ tuy, nga bất thực thảo, địa hồ tiêu,... (Centipeda minima L.), họ cúc (Araceae), là loại cỏ mọc sát mặt đất, phân thành nhiều cành, ở ngọn có lông mịn trắng. Hoa màu vàng nhạt, mọc ở nách lá. Khi vò ra có mùi hắc. Quả bế  4 cạnh, trên cạnh có lông mịn.
Cây mọc hoang khắp nơi vùng đồng ruộng ẩm thấp. Thu hái toàn cây về dùng tươi hoặc sấy khô để làm thuốc.
Theo Đông y, cúc mẳn có vị đắng, cay, tính ấm, quy vào các kinh phế, can. Thường dùng chữa ho, viêm phế quản, mẩn ngứa, mụn nhọt, hắc lào, eczema,...

Chữa ho gà ở trẻ em : Cúc mẳn 10g cây tươi, rửa sạch, giã nát, vắt lấy nước cốt, hòa thêm một chút mật ong cho dễ uống. Ngày uống 2 lần. Uống 7-10 ngày.
Viêm phế quản mạn tính: Cúc mẳn 10g tươi, lá hen 12g, bách bộ 10, trần bì 8g, sắc uống ngày một thang. Uống  10-15 ngày.
Ho do cảm cúm: Cúc mẳn, lá xương sông, râu ngô, mỗi vị 40g, sắc uống ngày 1 thang. Uống 3-5 ngày.
Chữa sốt rét cơn: Cúc mẳn 120g, 300 ml, sắc còn 200m, sắc uống mỗi ngày một thang, uống trước khi phát sốt 1 giờ.
Mẩn ngứa, mụn nhọt, hắc lào: Dùng cây cóc mẳn tươi không kể liều lượng, rửa sạch, giã nát, rồi đắp lên chỗ mẩn ngứa xát vào chỗ bị mẩn ngứa, hắc lào, ngày làm nhiều lần. Làm trong vài ngày.
Chữa eczema: cóc mẳn 20g, đậu xanh 10g, rửa sạch, thêm vài hạt muối giã nát rồi đắp lên vùng da bị eczema.


NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ
NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ
Gọi cho chúng tôi 0902233317

Lá cây màng tang trừ muỗi

Theo Đông y, màng tang là vị thuốc có vị cay, đắng, tính ấm, có mùi thơm của sả; có tác dụng tán phong hàn, ôn trung hạ khí, trừ thấp giảm đau.
Theo Đông y, màng tang là vị thuốc có vị cay, đắng, tính ấm, có mùi thơm của sả; có tác dụng tán phong hàn, ôn trung hạ khí, trừ thấp giảm đau. Thường dùng trị ngoại cảm, nhức đầu, phong thấp, đau nhức xương, đầy hơi, ăn uống không tiêu, mụn nhọt... Lá có tác dụng phòng muỗi đốt rất hiệu quả.
Màng tang thuộc loại cây nhỡ, cao, thân vỏ xanh, có lỗ bì, già thì có màu nâu xám, cành nhỏ. Lá mọc so le, phiến lá hình mác dài độ 10cm, rộng 1,5-2,5cm, dày, mặt trên màu xanh lục, mặt dưới màu xám sau biến màu đen, mép nguyên, cuống lá mảnh, gân lá rõ. Hoa nhỏ, khác gốc, màu vàng nhạt, mọc thành chùm ở nách lá. Quả mọng hình tròn hay hình trứng khi chín màu đen, mùi rất thơm. Hoa ra từ tháng 1-3, mùa ra quả tháng 4-9.
Cây mọc hoang ở vùng rừng núi cao như: Lào Cai, Lai Châu, Hà Giang, Kon Tum, Lâm Ðồng và đã được trồng ở một số nông trường để làm cây che bóng cho chè, có nơi dùng lấy quả để cất tinh dầu. Trồng bằng hạt vào mùa xuân. Thu hái quả vào mùa hè - thu, rễ và lá thu hái quanh năm.
Màng tang, bạc hà, hương phụ có tác dụng chữa căng cơ do vận động nhiều.

Đơn thuốc sử dụng màng tang:
- Cảm mạo phong hàn: Lá màng tang, lá bưởi, lá sả, cây bạc hà (hoặc kinh giới, tía tô) mỗi thứ một nắm nấu nước để xông. Hoặc có thể lấy rễ màng tang 40g, sắc nước pha chút đường đỏ, uống nóng, dùng liền 3 ngày.
- Đau nhức xương do thay đổi thời tiết: Rễ màng tang 30g rửa sạch, đổ 500ml nước sắc nhỏ lửa còn 200ml, chia 2 lần uống trong ngày, 5 ngày một liệu trình.
- Chữa nấc do cảm lạnh: Quả màng tang, tán bột, mỗi lần uống 4g, ngày 3-4 lần, chiêu với nước nóng pha thêm ít giấm.
- Rối loạn tiêu hóa do thức ăn sống, lạnh: Quả màng tang 8g, lá chè 4g, mơ lông 12g. Sắc uống ngày 1 thang, chia làm 3-4 lần.
- Tỳ vị kém, ăn kém, tiêu hóa kém, đầy bụng: Quả màng tang 10g, gừng 5g, trần bì 5g, thủy xương bồ 5g, sắc uống ngày 1 lần. Dùng 3-5 ngày.
- Viêm xoang mũi dị ứng: Người bệnh dễ hắt hơi, sổ mũi, nghẹt mũi, nhức đầu, đau mỏi gáy khi thời tiết thay đổi: Lá màng tang 60g, toàn cây viễn chí 100g, lá ngải cứu 60g, đều dùng tươi, nấu với nước pha ấm, tắm toàn thân và gội đầu mỗi sáng 1 lần, làm 7 ngày liên tiếp.
- Căng cơ do vận động nhiều: Lá màng tang 20g, bạc hà 4g, hương phụ 4g, ngũ gia bì gai 20g, tiên mao 16g; đều dùng thuốc tươi, giã nhuyễn, thêm rượu trắng bó vào chỗ đau khoảng 3 giờ, ngày thay thuốc 1 lần.


NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ
NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ
Gọi cho chúng tôi 0902233317

Cỏ lá tre hạ sốt, lợi niệu

Đạm trúc diệp còn gọi là cỏ lá tre, cỏ cú, áp chích thảo, thủy trúc. Bộ phận dùng làm thuốc là toàn cây, cắt bỏ rễ con, phơi hay sấy khô, bó thành từng bó nhỏ, khi dùng cắt ngắn khoảng 2-3cm.
Đạm trúc diệp còn gọi là cỏ lá tre, cỏ cú, áp chích thảo, thủy trúc. Bộ phận dùng làm thuốc là toàn cây, cắt bỏ rễ con, phơi hay sấy khô, bó thành từng bó nhỏ, khi dùng cắt ngắn khoảng 2-3cm. Có thể dùng tươi, phơi hoặc sấy khô. Đạm trúc diệp vị ngọt, tính hơi hàn, quy kinh tâm, tiểu trường và bàng quang. Tác dụng thanh tâm hỏa, trừ phiền, tiêu viêm, giải độc và lợi niệu. Dùng trong các trường hợp sốt cao, miệng khát, bứt rứt, miệng lưỡi nhiệt lở sưng đau, viêm đường tiết niệu... Ngày dùng 6-10g dưới dạng thuốc sắc hoặc dùng phối hợp với các vị thuốc khác.
Cỏ lá tre.
Chữa viêm niệu đạo tiểu tiện sẻn, đái buốt, đái dắt: đạm trúc diệp 20g, thông thảo 10g, thiên hoa phấn 10g, sinh cam thảo 6g, hoàng bá 10g. Sắc uống.
Chữa sốt nóng âm ỉ, mắt mờ, mặt đỏ, nhức đầu: đạm trúc diệp 12g, thanh hao 9g. Sắc uống.
Chữa các chứng nhiệt, sốt, miệng khô, tâm phiền, người hư nhược: đạm trúc diệp 12g, thạch cao 24g, bán hạ 16g, nhân sâm 12g, cam thảo 6g, mạch đông 16g, ngạnh mễ 32g. Sắc uống.
Chữa chứng phiền nhiệt, nước tiểu đỏ, sốt cao, niêm mạc miệng lở loét: hoàng liên 5g, đạm trúc diệp 10g, hoàng bá 10g, hoàng cầm 10g, chi tử 10g, cam thảo 5g.
Chữa chứng phong ôn (đau đầu, sốt sợ lạnh, không ra mồ hôi, mình nóng, đau họng, miệng khát): kim ngân hoa 12g, đạm đậu sị 36g, kinh giới tuệ 12g, ngưu bàng tử 12g, bạc hà 16g, liên kiều 8g, cam thảo 8g, đạm trúc diệp 16g, ngưu bàng tử 12g. Sắc uống.
Chữa chứng thấp nhiệt (sốt, đau mình, ra mồ hôi, bí tức vùng thượng vị, buồn nôn...):  ý dĩ 24g, đạm trúc diệp tươi 12g, hoạt thạch 24g, bạch đậu khấu 8g, liên kiều 8g, phục linh 12g, thông thảo 6g. Sắc uống.
Chữa chứng tổn thương tân dịch và khí (sốt có mồ hôi, chân tay rời rã, nước tiểu vàng, mạch hư vô lực ): đảng sâm 8g, thạch hộc 10g, mạch môn đông 10g, hoàng liên 4g, đạm trúc diệp tươi 12g, tri mẫu 12g, tô ngạnh 8g, cam thảo 4g, ngạnh mễ 32g, tây qua 12g. Sắc uống.
Kiêng kỵ: Người không thấp nhiệt và phụ nữ có thai không nên dùng.


NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ
NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ
Gọi cho chúng tôi 0902233317

Quế - vị thuốc bổ hỏa, hồi dương

Quế còn gọi là quế quỳ, quế thanh, nhục quế, quế tâm. Bộ phận dùng chủ yếu là vỏ. Vỏ quế có chứa nhiều tinh dầu, tinh bột, chất nhầy, tanin và chất mầu. Theo Đông y, quế có vị cay ngọt, tính đại nhiệt, hơi có độc, vào 2 kinh can và thận.
Quế còn gọi là quế quỳ, quế thanh, nhục quế, quế tâm. Bộ phận dùng chủ yếu là vỏ. Vỏ quế có chứa nhiều tinh dầu, tinh bột, chất nhầy, tanin và chất mầu. Theo Đông y, quế có vị cay ngọt, tính đại nhiệt, hơi có độc, vào 2 kinh can và thận. Có công dụng bổ hoả, hồi dương, ấm thận, tỳ, tán hàn hoạt huyết. Có tác dụng chữa thũng, đại tiện lỏng, kinh bế do hàn, giải biểu tán hàn, hoá khí, trị kinh giản, chân tay co quắp, lưng gối đau, tê, tiểu tiện không thông. Chữa rắn cắn. Dùng ngoài bó gãy xương. Liều dùng: từ 4-12g, dạng thuốc sắc hoặc hãm. Sau đây là một số bài thuốc có dùng quế:
Bài Kim quỹ thận khí hoàn: trị thận khí hư hạ nguyên lạnh đêm đi tiểu nhiều, chân tay đầu gối  yếu, mặt sạm đen, không thiết ăn uống, eo lưng đau, nặng nề nhức mỏi, bụng dưới bất hoà, tiểu tiện không thông lợi: thục địa 320g, đơn bì 120g, phục linh 120g, trạch tả 120g, sơn thù 160g, hoài sơn 160g, phụ tử (nướng) 80g, nhục quế 80g. Tất cả tán nhỏ luyện mật ong làm viên bằng hạt ngô. Mỗi lần uống 15-20 viên với rượu ấm, lúc đói, trước bữa ăn, ngày 2 lần.
BàiHữu quy hoàn: trị nguyên dương không đủ mệnh môn hoả suy, tỳ vị hư lạnh, bụng đau, rốn lạnh, ăn uống kém, ăn vào nôn ra: thục địa 320g, hoài sơn (sao) 160g, sơn thù (sao qua) 120g, câu kỷ tử (sao qua) 160g, đỗ trọng (sao nước gừng) 160g, nhục quế 120g, chế phụ tử 80g, đương quy 120g. Đem thục địa nấu thành cao, các vị kia tán nhỏ rồi trộn chung, giã nhuyễn viên bằng quả táo ta. Mỗi lần uống 2 quả với nước sôi.
Cây và vỏ quế.
BàiQuế tâm tán:
- Trị khí lạnh công tâm, bụng đau, nôn nhiều không muốn ăn uống: quế tâm 40g, cao lương khương 40g, đương quy 40g, thảo đậu khấu (bỏ vỏ) 60g, hậu phác 80g (bỏ vỏ thô, tẩm nước gừng sao) nhân sâm 40g. Tất cả nghiền nhỏ cùng với nước cháo làm viên mỗi viên bằng hạt ngô đồng (3/10g) mỗi lần uống 20 viên với nước cháo hoặc nước cơm trước bữa ăn.
- Trị tâm đau, buồn bực phiền não: nhục quế 20g, nghiền nhỏ, dùng rượu 100ml sắc còn 50ml uống nóng.
BàiQuế phụ đỗ trọng thang:
- Trị thực hàn, eo lưng đau, miệng lưỡi xanh, âm nang co, mình rét run, mạch huyền khẩn: Nhục quế 12g, phụ tử 12g, đỗ trọng 8g. Sắc uống nóng.
- Trị sau đẻ trong bụng kết cục (hà) đau: bột quế uống với rượu ấm 1-2g, uống ngày 3 lần.
BàiQuế liên hoàn: trị trẻ con đi lỵ đỏ trắng, bụng đau không ăn được: nhục quế, hoàng liên lượng bằng nhau, tán nhỏ, hồ trộn làm hoàn bằng hạt đậu xanh. Mỗi lần uống 5-10 với nước cơm.
BàiQuế can hoàn: trị trẻ con đái dầm nhục quế nghiền nhỏ, gan gà trống 1 bộ, hai vị lượng bằng nhau, giã nhừ, viên như hạt đậu xanh.Uống ngày 3 lần, mỗi lần 5-10g với nước ấm.
Bài Dưng hoà thang:
- Trị hạc tất phong và các loại âm thư: thục địa 40g, nhục quế 4g, ma hoàng 2g, bạch giới tử 8g, lộc giác giao 12g, sinh cam thảo 4g, gừng nướng đen 2g. Sắc uống.
- Trị bị ngã, bị đánh, bị thương trong bụng có máu ứ: nhục quế 80g, đương quy 80g, bồ hoàng 100g. Tán nhỏ uống ngày ba lần, đêm 1 lần với rượu, mỗi lần 1 thìa cà phê.
- Trị hư hàn hầu họng đau: nhục quế, gừng khô, cam thảo các vị đều 2g, tán nhỏ hoà nước ấm rồi ngậm, từ từ nuốt nước thuốc.
- Trị ngứa da: quế, riềng, tế tân đều 2g, ban miêu (sâu đậu) 10 con nghiền nát, rượu trắng 150g, ngâm 7 ngày mỗi ngày khuấy đều 1 lần rồi lọc lấy nước. Rửa sạch chỗ ngứa sần rồi xoa thuốc này ngày 1 lần. Kiêng uống rượu và các món ăn có tính kích thích, dị ứng, động phong.
Chú ý: người có thể âm hư không được dùng. Phụ nữ có thai thận trọng khi dùng.


NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ
NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ
Gọi cho chúng tôi 0902233317


 
Design by Free WordPress Themes | Bloggerized by Lasantha - Premium Blogger Themes | Laundry Detergent Coupons