Thứ Ba, 23 tháng 2, 2016

Toả dương - Thuốc bổ ngày xuân


Vào mùa hoa toả dương nở, cũng là dịp Tết Nguyên đán, nhân dân ở các vùng miền núi thường đi thu hái cây toả dương về rửa sạch, thái mỏng, sao khô để ngâm rượu làm thuốc bổ.

Tỏa dương.
Toả dương có tên là củ gió đất, củ ngọt núi, hoa đất, cây không lá, xà cô, là loại cây có hình dạng như cây nấm, màu đỏ nâu sẫm, được cấu tạo bởi cán hoa lớn, trên mang hoa dày đặc, có mo bao bọc, màu tím, có mùi hôi. Cán hoa nạc và mềm, sần sùi, không có lá. Hoa đực và hoa cái riêng. Cụm hoa đực hình trụ, dài 10-15cm. Cụm hoa cái hình đầu, dài 2-3cm. Toả dương thường mọc và sống ký sinh trên rễ những cây gỗ lớn trong rừng sâu ẩm thấp... ở các vùng rừng núi Hoà Bình, Lào Cai, Yên Bái,...
Tỏa dương thường được dùng làm thuốc bổ máu, bổ thận, kích thích ăn ngon miệng, chữa nhức mỏi chân tay, chữa đau lưng mỏi gối, di tinh, liệt dương, phục hồi sức khoẻ cho phụ nữ sau khi sinh,...
Một số bài thuốc có vị tỏa dương:
Chữa liệt dương: Toả dương 12g, thục địa 15g, sơn thù nhục 15g, sơn dược 15g, phục linh 12g, câu kỷ 15g, nhục thung dung 12g, dâm dương hoắc diệp 30g, ba kích nhục 12g, bạch nhân sâm 12g, lộc nhung 6g, sao táo nhân 12g, thỏ ti tử 12g, thiên môn đông 9g, cam thảo 9g. Tất cả đem tán mịn trộn mật làm thành viên, mỗi viên nặng 9g. Mỗi ngày uống 3 lần, mỗi lần 1 viên, uống với nước đun sôi để nguội. Kiêng ăn thức ăn tanh, lạnh.
Món ăn, bài thuốc hỗ trợ tráng dương: Toả dương 5g, nhục thung dung 5g, thịt dê 50g, bột mì 200g. Trước tiên sắc riêng toả dương và nhục thung dung, lấy nước thuốc này nhào với bột mì, cán mỏng, cắt thành sợi, cho vào nấu với thịt dê, nêm gia vị vừa miệng, làm thức ăn điểm tâm hằng ngày.
Hoạt tinh, di tinh, sinh lý yếu, mệt mỏi: Tỏa dương 120g, tang phiêu tiêu 120g, long cốt 40g, bạch phục linh 40g. Tất cả tán mịn, viên to bằng hạt ngô, mỗi lần uống 15-20g với nước muối loãng. Ngày uống hai lần.
Bổ thận, chữa đau lưng mỏi gối, các khớp đau nhức, đại tiện khô táo kết gây đau bụng: Tỏa dương, hoàng bá, quy bản, hoàng cầm, đỗ trọng, ngưu tất, tri mẫu, mỗi vị 16g; địa hoàng, đương quy, mỗi vị 10g; phá cố chỉ, tục đoạn, mỗi vị 8g. Tất cả các vị thuốc tán bột mịn, trộn đều với rượu và hồ hoàn thành viên, ngày uống 2 lần, mỗi lần 15-20g.

Đại táo
Bài thuốc bổ thận tráng dương (dùng cho người cao tuổi dương hư, thận suy, yếu mệt, liệt dương, di tinh kém ăn, mất ngủ): Toả dương 10g, nhân sâm 12g, hoàng kỳ 16g, đỗ trọng 16g, nhục thung dung 8g, thỏ ty tử 12g, xa sàng tử 12g, phúc bồn tử 12g, đương quy 12g, bạch truật 12g, thục địa 16g, ba kích 12g, dâm dương hoắc 12g, lộc nhung 12g, kỷ tử 12g, đại táo 5 quả, long nhãn 10g, cam thảo 6g, xuyên khung 8g, hà thủ ô đỏ 12g. Tất cả cho vào 750ml nước vào sắc kỹ còn 250ml chia 3 lần uống trong ngày. Uống 7 thang liền thì cơ thể sẽ khoẻ, ăn ngon, ngủ yên, dai sức hết mệt mỏi di tinh, liệt dương. Cùng bài thuốc trên với số lượng gấp 5 lần mỗi vị cho vào 5 lít rượu, ngâm trong 3 tuần, chắt ra, cho thêm 500ml mật ong loại tốt, mỗi ngày uống 3 lần trước bữa ăn, mỗi lần 20 - 30ml.
Chữa xuất tinh sớm: Thục địa 30g, tỏa dương 20g, đỗ trọng 30g, đuôi lợn 150g, gừng tươi 15g, đại táo 8 quả. Ðuôi lợn cạo bỏ lông, rửa sạch, chặt thành từng khúc. Gừng tươi giã nát. Các vị thuốc rửa sạch. Tất cả cho vào nồi hầm lửa nhỏ trong 2,5-3 giờ là được, cho thêm gia vị, chia ăn vài lần trong ngày. Bài thuốc có công dụng: Tư bổ thận tinh, dùng cho những người bị chứng xuất tinh sớm với các triệu chứng như xuất tinh sớm, tinh dịch ít và loãng, cơ thể hao gầy, suy giảm ham muốn tình dục, da mặt nhợt nhạt, tóc rụng nhiều, tiểu tiện trong dài, đại tiện lỏng loãng, chất lưỡi nhợt, thường có bệnh mạn tính kèm theo như tiểu đường, u phì đại tiền liệt tuyến mạn tính, suy giảm công năng tuyến thượng thận...
Xuất tinh sớm và liệt dương: Toả dương 20g, tang thầm (quả dâu tằm chín đen) 20g. Hai thứ tán nhỏ, hãm trong phích nước sôi với 10g mật ong. Sau 15 phút là uống được. Uống thay nước trà hàng ngày. Chú ý, người bị tiêu chảy không nên dùng loại nước này.
Phục hồi sức khoẻ cho phụ nữ sau khi sinh: Toả dương sau khi thu hái về, tước bỏ những phiến của lá bắc và bao hoa, rửa sạch, thái mỏng, phơi khô, sao qua, rượu 35 - 40 độ. Cứ 1 phần toả dương, 5 phần rượu. Ngâm trên 1 tháng mới dùng được, hoặc càng lâu càng tốt. Khi đó rượu có màu đỏ sẫm, vị hơi đắng, chát. Nếu khó uống có thể cho thêm ít đường hoặc mật ong cho dễ uống. Ngày uống 2 lần trước bữa ăn, mỗi lần uống 1 chén con (khoảng 30ml) .
Bác sĩ Thu Vân



Ngưu bàng Ngưu bàng chữa đậu sởi, nhọt độcchữa đậu sởi, nhọt độc

Ngưu bàng là cây Aretium Lappa, họ cúc Asteraceae. Rau ngưu bàng (rau cẩm bình) có các bộ phận được dùng làm thức ăn uống và thuốc để phòng chữa bệnh gồm lá, cộng rễ và hạt. Ngưu bàng tử (hạt ngưu bàng) và ngưu bàng căn (rễ ngưu bàng) là hai vị thuốc được dùng nhiều trong Đông y. Thành phần hóa học: Rễ chứa inulin, tanin poliphenol, các axit hữu cơ, các vitamin nhóm B, E; các muối khoáng K, Na, Zn, Mg, Ca. Hạt chứa dầu béo, lapaol A, B, arctin.
Theo Đông y, ngưu bàng vị cay, đắng, tính ôn có tác dụng sơ phong tán nhiệt, lợi tiểu mát máu, chữa đậu sởi, lở ngứa, mụn nhọt độc. Sau đây là một số món ăn – nước uống dùng chữa bệnh từ ngưu bàng:
1. Chữa viêm họng, amidan tuyến nước bọt, sởi, thủy đậu: Ngưu bàng căn 30g sắc lấy 100ml nước (bỏ bã) nấu cháo. Khi cháo sôi nhừ mới cho nước cốt ngưu bàng vào. Nấu sôi lại. Ăn với đường (nên chọn đường đỏ). Ngày ăn 2 lần trong vài ngày. Hoặc ngưu bàng tử 20g, nghiền nấu, chắt lấy nước làm như trên.
3. Chữa cảm làm ra mồ hôi, chữa viêm đường hô hấp trên, nhức đầu, liệt thần kinh mặt giai đoạn đầu: Ngưu bàng tử, kinh giới, cháo đậu mỗi thứ 5-10g; bạc hà 3-5g; gạo tẻ 5-10g. Nước nấu sôi rồi cho các thứ vào, cho sôi lại, chắt nước bỏ bã cho vào cháo đặc nấu lại được cháo loãng.
Cây và vị thuốc ngưu bàng tử.
4. Bổ trợ trong điều trị ung thư da: Ngưu bàng tử 10g, thuyền thuế  (xác ve sầu) 15g, đan bì 15g, sắc ba vị trên lọc lấy nước (bỏ bã) cho gạo lượng vừa ăn nấu chung cho đến khi nhừ cháo. Ăn sáng và chiều (chú ý thuyền thuế bỏ chân kẻo hóc).
5. Làm sạch da và phục hồi sức khỏe sau khi sinh đẻ, sau phẫu thuật, sau thời gian bệnh kéo dài bị suy nhược: Nước lá rễ ngưu bàng sắc nước tỷ lệ 1 ngưu bàng 10 nước. Lá rễ thái nhỏ. Đun sôi 10 phút.
6. Trường hợp thoát thử loại nhiệt độc, da cục bộ sưng nóng đỏ đau, sốt, mặt đỏ, miệng khát: Ngưu bàng căn tươi 200g, thái nhỏ giã nát vắt lấy nước uống. Có thể phối hợp nước ngó sen tươi 200g vắt trộn 2 thứ để uống.
7. Chữa các chứng bệnh ngoài da viêm tấy, ngứa (dị ứng), viêm mũi họng: Ngưu bàng tử 30g, ngân hoa 50g. Sắc 2 vị này lấy nước lọc bỏ bã, lấy nước hòa đường đủ ngọt để uống nhiều lần.
Lưu ý: người bị tiêu chảy, phụ nữ có thai không nên dùng.
BS. Phó Đức Thuần



Cỏ xước lưu thông huyết

Cây cỏ xước còn gọi là ngưu tất nam, thành phần trong cỏ xước chủ yếu là nước protide, glucide, xơ, tro... chứa acide oleanolic. Hạt có chứa hentriacontane và saponin...
Theo Đông y, cỏ xước có vị chua, đắng, tính bình (có tài liệu nói tính mát), tác dụng thanh nhiệt, tiêu viêm, lợi tiểu, làm lưu thông huyết, còn có khả năng chống viên tốt ở giai đoạn mạn và cấp tính, tác dụng bổ gan thận, mạnh gân cốt, được sử dụng để chữa viêm khớp, phụ nữ sau sinh máu hôi không sạch làm giảm cholesterol trong máu, chữa tăng huyết áp, xơ vữa động mạch...
Liều dùng trung bình mỗi ngày cho dạng thuốc sắc là 3 - 9g.
Chữa chứng sổ mũi, sốt: Cỏ xước 30g, đơn buốt 30g, sắc uống ngày 1 thang, chia 2 - 3 lần.
Chữa quai bị: Lấy cỏ xước giã nhỏ chế thành nước súc miệng và uống trong; còn bên ngoài lấy lượng vừa đủ giã đắp vào nơi quai bị sưng đau.
Chống co giật (kể cả bại liệt, phong thấp teo cơ, xơ vữa mạch máu): rễ cỏ xước 40 – 60g sắc lấy nước thuốc uống nhiều lần trong ngày.
Chữa viêm gan, viêm thận (kể cả viêm bang quang, đái vàng thẫm, đái đỏ, đái ra sỏi): Cỏ xước 15g, cỏ tháp bút 15g, mộc thông 15g, mã đề (hay hạt lá bông) 15g, sinh địa 15g, rễ cỏ tranh 15g, sắc lấy nước uống với bột hoạt thạch 15g, chia ba lần.
Chữa trị viêm cầu thận (phù thũng, đái đỏ, đái són, viêm gan virus, đái vàng thẫm, da vàng, viêm bang quang, đái ra máu): Rễ cỏ xước 30g, rễ cỏ tranh 15g, mã đề 15g, mộc thông 15g, huyết dụ 15g, lá móng tay 15g, huyền sâm 15g. Sắc uống ngày 1 thang, chia 3 lần.
Chữa các chứng bốc hỏa (nhức đầu, chóng mặt, đau mắt, ù tai, tăng huyết áp, rối loạn tiền đình, khó ngủ, đau nhức dây thần kinh, rút gân, co giật, táo bón): Rễ cỏ xước 30g, hạt muồng sao 20g, sắc uống mỗi ngày 1 thang chia 3 lần; thuốc có công hiệu an thần.
Chữa thấp khớp đang sưng: rễ cỏ xước 16g, nhọ nồi 16g, hy thiêm thảo 16g, phục linh 20g, ngải cứu 12g, thương nhĩ tử 12g, sao vàng sắc lấy ba lần nước thuốc, sau trộn chung cô sắc đặc chia 3 lần uống. Ngày uống 1 thang trong 7 – 10 ngày liền. Hoặc cỏ xước 40g, hy thiêm 30g, thổ phục linh 20g, cỏ mực 20g, ngải cứu 12g, quả ké đầu ngựa 12g, sắc lấy nước thuốc đặc uống trong ngày.
Viêm đa khớp dạng thấp: Rễ cỏ xước tẩm rượu sao 20g, độc hoạt 12g, tang ký sinh 16g, dây đau xương 16g, tục đoạn 12g, đương quy 12g, thục địa 12g, bạch thược 12g, đảng sâm 12g, tần giao 12g, quế chi 8g, xuyên khung 8g, cam thảo 6g, tế tân 6g. Sắc uống ngày 1 thang chia 3 lần, trong 10 ngày.
Chữa bệnh gút: Lá lốt 15g, rễ bưởi bung 15g, rễ cây vòi voi 15g, tất cả thái mỏng sao vàng, rồi sắc lấy nước đặc chia ba lần uống trong ngày. Ngày dùng 1 thang, trong 7 – 10 ngày liền.
Chữa kinh nguyệt không đều, huyết hư: Rễ cỏ xước  20g,  cỏ cú (tứ chế) 16g, ích mẫu 16g, nghệ xanh 16g, rễ gai (gai lá làm bánh) 30g, sắc uống ngày 1 thang, chia 3 lần, uống 10 ngày. Không dùng cho người có thai.
Chữa suy thận, phù thũng, nặng chân, vàng da: Rễ cỏ xước sao 30g, mã đề cả cây 30g, cúc bách nhật cả cây 30g, cỏ mực 30g, sắc ngày uống 1 thang, chia 2 – 3 lần, uống liền trong  7 – 10 ngày.
Chữa trị mỡ máu cao (kể cả xơ vữa động mạch, huyết áp cao, nhức đầu chóng mặt, ù tai, mờ mắt): Cỏ xước 16g, hạt muồng sao vàng 12g, xuyên khung 12g, hy thiêm 12g, nấm mèo 10g, đương quy 16g, cỏ mực 20g, sắc uống ngày 1 thang chia 3 lần, khi uống vớt bã nấm mèo ra ăn, nhai kỹ chiêu với nước thuốc. Cần uống liên tục 20 – 30  ngày.
BS. Hoàng Xuân Đại



Thông thảo: lợi sữa, chống phù nề

Thông thảo là phần lõi trắng giữa thân cây Thông thảo [Tetrapanax papyriferus (Hook) K Koch., họ Ngũ gia bì (Araliaceae)]. Thông thảo chứa protein; chất béo; chất xơ; pentosan; uronid. Khi thủy phân cho glucose, xylose, D-galacturonic, galactose,... Tác dụng chống viêm nề, lợi sữa. Theo Đông y, thông thảo vị ngọt nhạt, tính hàn; vào kinh phế và vị. Có tác dụng tả phế lợi thủy, lợi sữa. Dùng trị các chứng lâm, thấp ôn, viêm đường tiết niệu, phù nề, phụ nữ sau đẻ thiếu sữa. Liều dùng, cách dùng: 4-16g dưới dạng sắc, nấu, hầm.
Thông thảo được dùng làm thuốc trong các trường hợp:
Hành khí, thông sữa, trị tắc và thiếu sữa sau khi đẻ:
Thông thảo 8g, vảy tê tê 8g, chân giò lợn 1 đôi, xuyên khung 6g, cam thảo 4g. Cho tất cả vào nồi hầm nhừ; ăn chân giò và nước hầm.
Dùng ngoài: Lấy nước luộc hành rửa bầu vú, rửa nhiều lần.
Lợi niệu thông lâm, trị các chứng bệnh thấp nhiệt, thủy thũng, đái dắt
Bài 1 - Thang thông thảo: thông thảo, cù mạch, thiên hoa phấn, liên kiều mỗi vị 12g; bạch chỉ, sài hồ, thanh bì, xích thược, cát cánh mỗi vị 8g, cam thảo 4g, Sắc uống. Trị tiểu tiện nhỏ giọt.
Bài 2 - Thuốc thông sa: thông thảo, hạnh nhân, màng mề gà, hạt củ cải mỗi vị 12g; hậu phác, mộc thông, trần bì mỗi vị 8g, hải kim sa 16g. Sắc uống. Trị cổ trướng (bụng trướng to), bí tiểu tiện.
Bài 3: thông thảo, cù mạch, liên kiều mỗi vị 12g; mộc thông 8g, cam thảo 4g. Sắc uống. Trị nhiễm khuẩn niệu đạo.
Bài 4: thông thảo 8g, đại phúc bì 12g, phục linh bì 16g. Sắc uống. Trị viêm thận cấp, thủy thũng, tiểu tiện ít.
Một số món ăn thuốc có thông thảo:
Chân giò hầm thông thảo: chân lợn đen 1 đôi, thông thảo 4g, có thể thêm 2-4g nhân sâm. Chân lợn làm sạch chặt nhỏ, hầm với thông thảo, nhân sâm. Ăn trong ngày. Dùng cho sản phụ sau đẻ ít sữa.
Nước hồ lô căn thông thảo trần bì: thông thảo 6g, sinh lô căn 30g, trần bì 2g, gạo tẻ 60g. Tất cả nấu thành cháo loãng cho uống. Dùng cho các trường hợp nôn thổ, nôn khan sau khi bị bệnh đường ruột, thương hàn.
Kiêng kỵ: Người không bị thấp nhiệt hoặc đi tiểu nhiều, dùng phải thận trọng. Phụ nữ có thai cấm dùng.



Cây sống đời chữa bỏng


Cây sống đời còn có tên gọi khác là cây thuốc bỏng (thường được dùng để chữa bỏng), trường sinh, diệp sinh căn. Cây sống rất lâu, lá rụng xuống mặt đất là mọc rễ phát triển thành một cây con. Đây là một loại cây thường được trồng trong vườn nhà làm cảnh và làm thuốc. Cây cao cỡ 40 - 60 cm, thân tròn, nhẵn, mọng nước, có đốm tía. Lá mọc đôi, chéo chữ thập, đơn hoặc gồm 3 - 4 lá chét dầy; mép khía răng cưa tròn. Hoa màu đỏ hay vàng cam, rủ xuống trên một cán dài ở ngọn thân hay ở lá bên cạnh. Mùa hoa vào tháng 2 đến tháng 5.
Theo Đông y, cây sống đời có vị nhạt, hơi chua, chan chát, có tính mát. Thường được dùng chữa bỏng, cầm máu, giải độc,...
Tác dụng chữa bệnh như sau:
Chữa bỏng nhẹ, bỏng nông: Lá sống đời không kể liều lượng, rửa sạch, giã nát đắp lên vết bỏng 3 - 4 lần mỗi ngày.
Cầm máu khi bị đứt tay: Lấy 3 - 4 lá rửa sạch, giã nát, đắp lên vết thương có tác dụng cầm máu rất tốt, có thể kết hợp lấy một nắm lá rửa sạch, giã nát hòa với nước sôi để nguội, lọc lấy nước cốt để uống.
Vết thương bầm tím: Một nắm lá sống đời rửa sạch, giã nhuyễn, cho thêm ít rượu và đường để uống.
Đau họng do viêm họng: Lấy 3 - 4 lá sống đời, rửa sạch, nhai ngậm trong họng rồi nuốt dần. Ngày làm 3 lần sẽ có tác dụng giảm đau họng rất tốt.
BS. Nguyễn Thị Nga



Rau bầu đất chữa viêm họng, thấp khớp

Theo Đông y, bầu đất có vị cay, ngọt, thơm, hơi đắng, tính bình, tác dụng thanh nhiệt giải độc, lợi tiểu, tiêu viêm, tán ứ tiêu thũng, chỉ khái. Dùng trị viêm họng, viêm khí quản mạn, phong tê thấp khớp, xương đau nhức, chấn thương sưng đau, ho gió, ho gà, ho lao, ngã thương, sưng vú, nhọt độc, ngứa loét, bong gân, loét dạ dày, táo bón, viêm đại tràng, điều hòa máu huyết, an thần, giảm đau, trị nhức đầu, chóng mặt, cầm máu, điều hòa huyết áp, điều hòa kinh nguyệt, giải độc... Sau đây là một số cách dùng rau bầu đất trị bệnh.
Chữa chứng còi xương, ra mồ hôi trộm ở trẻ em: thường dùng lá và ngọn non nấu canh cua.
Chữa đái dầm ở trẻ: nấu canh rau bầu đất cho trẻ ăn hàng ngày vào buổi trưa.
Chữa mất ngủ: thường xuyên ăn sống bầu đất hoặc xào hay nấu canh ăn, sẽ có tác dụng an thần, điều hòa máu huyết, giúp có giấc ngủ tốt.
Rau bầu đất (kim thất) trị viêm họng, viêm khí phế quản mạn, đau nhức xương khớp...
Chữa viêm phế quản mạn: nấu canh rau bầu đất với thịt lợn nạc hoặc tôm tươi ăn với cơm trong nhiều ngày.
Chữa viêm họng, ho gió, ho khan hoặc có đờm: nhai vài lá rau bầu đất, ngậm nước nuốt dần.
Chữa tiểu dắt, tiểu buốt: sắc rau bầu đất chia 2 lần uống trong ngày. Dùng 10-15 ngày.
Chữa táo bón, kiết lỵ: giã một nắm rau bầu đất rồi hòa với 100ml nước sôi để nguội, chia làm 2 phần uống vào buổi sáng và chiều, trong 5-6 ngày.
Chữa khí hư, bạch đới:
Ăn canh rau bầu đất: rau bầu đất 20g, rễ củ gai sao vàng 15g, cỏ xước 15g, kim ngân hoa 12g, cam thảo đất 16g, sắc uống ngày 1 thang, chia 2-3 lần.
Hoặc sắc nước uống với bột thổ tam thất và ý dĩ sao, với liều bằng nhau, mỗi lần 10-15g, ngày uống 2 lần.
Hỗ trợ điều trị đái tháo đường: nhai nuốt mỗi lần 7-9 lá rau bầu đất, ngày 2 lần sáng, chiều, có tác dụng điều hòa lượng đường trong máu rất rõ rệt. Không gây phản ứng phụ. Có thể kết hợp với các vị thuốc trị đái tháo đường khác.
Chữa vết thương:
Chảy máu: Dùng rau bầu đất rửa sạch đắp, buộc vào vết thương giúp cầm máu và bớt viêm sưng, đau nhức.
Chữa va đập bầm tím: Giã nát một nắm rau bầu đất và vài hạt hồ tiêu rồi đắp vào vết thương, sau 3 giờ lại đắp tiếp miếng khác. Dùng trong 3 ngày.
Chữa va đập bầm tím: Giã nát một nắm rau bầu đất và vài hạt hồ tiêu rồi đắp vào vết thương, sau 3 giờ lại đắp tiếp miếng khác. Dùng trong 3 ngày.
Kinh nghiệm trong nhân dân còn dùng bầu đất chữa mất ngủ, nhức đầu, chóng mặt, đau xương khớp, chấn thương, loét dạ dày, viêm đại tràng, điều hòa kinh nguyệt, huyết áp, giải độc, sưng vú, lợi tiểu tiêu thũng, ho gà, ho lao.
Ngoài cây bầu đất, còn có nhiều loài khác cùng chi cũng được sử dụng làm rau ăn, thường dùng nấu canh, như cây cải kim thất hay rau lúi - Gynura barbaraefolia Gagnep., cải giả - Gynura nitida DC và cây rau tàu bay.




Củ năng ích khí, hạ áp

Củ năng (còn gọi là củ mã thầy), địa lê... Củ năng có nhiều tinh bột, đạm, chất béo, canxi, photpho, sắt, vitamin A, B1, B2, C. Vị ngọt, tính hàn, củ năng có công dụng ích khí, an trung, khai vị tiêu thực, giải thực nhiệt, sinh tân chỉ khát, dùng chữa tiêu khát, tăng huyết áp, ung thư, vàng da,...
Một số món ăn thuốc từ củ năng
Dùng khi bị sởi, thủy đậu:
Củ năng tươi sống, nhai nhỏ, nếu non nhai nuốt cả nước lẫn cái.
Củ năng mài bột pha nước uống và làm bánh ăn còn giúp tiêu hóa tốt, chữa tích trệ ở trẻ em, nhiều đờm dãi.
Củ năng 60g, cà rốt 60g, hành tây 30g, nước vừa đủ. Nấu kỹ uống thay trà.
Bột củ năng tươi 10 củ nghiền mịn, cơm rượu nếp 100g. Nấu chín ăn ngày 2 lần, liền 7 ngày. Món này thích hợp với người bị sởi, thủy đậu thời kỳ cuối và ngoại cảm phong nhiệt.
Củ năng tươi 10 củ, nước củ cải trắng 500ml, ít đường. Nấu sôi uống nóng, 20ml trong vài ngày. Thích hợp sởi thời kỳ cuối và trường hợp ho khát nước.
Củ năng.
Thanh nhiệt, lợi thủy:
Củ năng 60g, củ cải trắng 150g, gạo 200g. Nấu cháo ăn.
Rau mã thầy 100g, củ mã thầy 100g, nấm hương 50g. Dầu vừng gia vị tùy ý. Xào qua rồi cho nước đun sôi mới cho rau mã thầy rồi cho bột vào sền sệt là được.
Bổ phế thận: củ năng 100g, bầu dục lợn 2 cái, cắt đôi làm sạch. Đường phèn 30g đập nát, 2.000ml nước. Các vị làm sạch đun sôi 25 phút thành canh ăn.
Khử mỡ, hạ áp, tiêu thũng, thanh nhiệt: củ năng 100g, thịt heo nạc 300g, rau cần 200g. Dầu, hành, đường xào chín.
Thanh nhiệt tiêu thũng:
Củ năng 100g, nước canh thịt vịt 500g, đường phèn 30g. Nấu canh ăn.
Củ năng 60g, cá diếc 300g, hành, giấm, đường 20g. Nấu canh ăn.
Củ năng xào các loại thịt, củ năng xào ngó sen... ăn hằng ngày.
Lưu ý: Củ năng tính lạnh nên người tỳ thận hư hàn, trẻ em đái dầm kiêng dùng.





 
Design by Free WordPress Themes | Bloggerized by Lasantha - Premium Blogger Themes | Laundry Detergent Coupons