Thứ Bảy, 28 tháng 11, 2020

Bách hợp vị thuốc nhuận phổi trừ ho, dưỡng tâm an thần

 Bách hợp còn có tên tỏi rừng, tỏi trời,... Bách hợp là các vảy dò thân ngầm của nhiều cây bách hợp (Lilium sp.): Bách hợp (Lilium brownie var colchester Wils.); bách hợp nhỏ (Lilium tenuifolium Fisch.); sơn đan (Lilium concolor Salisb.), thuộc họ Bách hợp (Liliaceae).

Về  thành phần hoạt chất, bách hợp chứa tinh bột, protein, chất béo, alkaloid (colchicein) và một ít vitamin. Tác dụng tăng thông lưu lượng khí phổi, chống hen phế quản do tác dụng chống co thắt phế nang. Theo Đông y, bách hợp vị ngọt, hơi đắng, tính bình. Vào kinh tâm và phế. Có tác dụng nhuận phế chỉ khái, thanh tâm an thần. Trị chứng tâm âm hư, phế âm hư có các biểu hiện ho lâu ngày, ho khan ít đờm, đờm huyết (đờm có lẫn máu), hồi hộp kích ứng, đánh trống ngực, lo lắng, sợ sệt, hoảng hốt. Hằng ngày dùng 8 - 30g; bằng cách nấu, hầm, xào, nướng, sắc.

Bách hợp tác dụng nhuận phế chỉ khái, thanh tâm an thần.

Bách hợp tác dụng nhuận phế chỉ khái, thanh tâm an thần.

Một số bài thuốc có bách hợp

Bách hợp Nhuận phổi trừ ho:

 Trị ho do phổi ráo, nóng, đờm có máu.

Bài 1 - Bách Hoa cao: bách hợp, khoản đông hoa, liều lượng bằng nhau. Các vị tán bột mịn, luyện với mật làm hoàn. Ngày 3 lần, mỗi lần 12g, uống sau khi ăn. Nhai nhỏ thuốc rồi chiêu bằng nước gừng hoặc nước đun sôi. Trị phổi khô sinh ho, đờm có máu.

Bài 2 - Thang bách hợp cố kim: bách hợp 4g, bạch thược 4g, đương quy 4g, xuyên bối mẫu 4g, sinh địa 8g, thục địa 12g, mạch môn 6g, huyền sâm 4g, cát cánh 4g, cam thảo 4g. Sắc uống. Trị phế hư sinh ho, âm hư hoả vượng, họng khô đau, ho ra đờm có dính máu, lưỡi đỏ ít rêu, mạch đập yếu.

Bách hợp Dưỡng tâm an thần: 

Trị thần kinh suy nhược lo lắng mất ngủ, người nóng.

Bài 1 - Thang bách hợp địa hoàng: bách hợp, sinh địa, liều lượng bằng nhau. Sắc uống.

Bài 2 - Thang bách hợp tri mẫu: bách hợp 24g, tri mẫu 12g. Sắc uống.

Bài 3 - Thang bách hợp ô dược: bách hợp 63g, ô dược 12g. Sắc uống. Trị đau dạ dày mạn tính, bụng trướng đầy. Nếu dạ dày lạnh, thêm vao lương khương 4g; nếu đau bụng nhiều, thêm diên hồ sách 12g. Bài này có thể làm viên hoàn uống.

Món ăn thuốc có bách hợp

Cháo đậu đỏ hạnh nhân bách hợp: 

bách hợp 10g, hạnh nhân 6g, đậu đỏ nhỏ hạt 60g, đường trắng lượng thích hợp. Nấu đậu đỏ đến khi đậu gần chín nhừ cho bách hợp, hạnh nhân vào nấu tiếp, thêm đường vừa ăn. Ăn điểm tâm buổi sáng. Dùng cho người viêm khô khí phế quản gây ho khan lâu ngày.

Phổi lợn hầm đảng sâm bách hợp:

 phổi lợn 250g, đảng sâm 15g, bách hợp 30g. Tất cả cho vào nồi, thêm nước hầm nhừ, bỏ bã thuốc, thêm muối mắm, gia vị. Dùng cho người viêm khí phế quản mạn, ho tái lại dai dẳng lâu ngày.

Bách hợp kê tử thang: 

bách hợp 7 củ, lòng đỏ trứng gà 1 cái. Ngâm bách hợp trong nước 1 đêm hoặc 10-12 tiếng, bỏ nước, thêm nước sạch đun sôi vớt bỏ váng, cho lòng đỏ trứng gà vào khuấy đều, đun sôi lại rồi uống. Dùng cho người bệnh suy nhược thần kinh, rối loạn thần kinh chức năng.

Nước ép bách hợp:

 bách hợp tươi 100g, giã ép lấy nước uống. Dùng cho người bệnh phổi ho ra máu, đờm lẫn máu. Có thể sắc uống.

Nước hồ bách hợp: 

bách hợp 30g, gạo tẻ 60g, đường trắng lượng thích hợp. Cho gạo, bách hợp, nước vào xoong đun to lửa cho sôi, sau đun nhỏ lửa hầm nhừ, cho thêm đường trắng khuấy đều. Dùng cho các trường hợp ho khan đờm dính ít, hồi hộp, đánh trống ngực, kích ứng, hốt hoảng.

Kiêng kỵ: Người bị ho do phong hàn, tiêu chảy do hư hàn không dùng.

Một dược, nhũ hương thuốc hoạt huyết, khứ ứ

  Một dược và nhũ hương là hai vị thuốc hoạt huyết khứ ứ mạnh của Y học cổ truyền. Chúng đều thuộc nhóm gôm, nhựa có xuất xứ từ một số loài cây, thường có trong các phương thuốc trị thống kinh, bế kinh, chấn thương ứ huyết, nhọt độc...

Một dược (Myrrha):

 là chất gôm nhựa của cây một dược [Commiphora myrrha (Nees) Engl.] và cây Balsammodendron chrenbergianum  Berg, họ Trám (Burseraceae).

Một dược chứa Heerabomyrrholic acid, commiphoric acid, commiphorinic acid, ergenol, m- cresol, pinen, dipenten, limonen, aldehyd cinamic... Theo Đông y, một dược có mùi thơm, vị đắng, tính bình, vào các kinh can, tâm, tỳ. Có tác dụng hoạt huyết, khứ ứ, chỉ thống, tiêu sưng, sinh cơ, thông kinh. Trị bế kinh, đau bụng kinh, đau thượng vị; nhọt độc sưng đau; sưng đau do sang chấn, trĩ... Dùng ngoài để thu miệng vết thương, vết loét lâu lành. Ngày dùng 4-12g. Có thể dùng dưới dạng thuốc thang, hoàn tán, cao dán nhọt. Để tăng tính hoạt huyết, giảm đau cho vị thuốc, thường tiến hành chế một dược với giấm. Không dùng cho phụ nữ có thai, mụn nhọt đã vỡ.

Nhũ hương (Gummi resina Olibanum): 

là chất gôm nhựa lấy từ cây nhũ hương (Boswellia carterii Birdw.), họ trám  (Burseraceae).

Nhũ hương chứa các chất α, β-boswellic acid, arabic acid, bassorin, pinen, dipenten, α, β-phellandren... Theo Đông y, nhũ hương có vị cay, đắng, tính ấm, mùi thơm. Quy vào các kinh  tâm, can, tỳ. Có tác dụng hoạt huyết, khứ ứ, chỉ thống, tiêu sưng, sinh cơ. Trị khí huyết ngưng trệ, kinh bế, hành kinh đau bụng, huyết ứ sau sinh gây đau bụng; ung nhọt; mày đay do phong hàn.Ngày dùng 3-6g. Dùng ngoài dưới dạng cao dán nhọt hoặc đắp bó vào vết thương. Không dùng cho phụ nữ có thai, mụn nhọt đã vỡ. Nhũ hương khi sao chế cũng tương tự như một dược.

Nhũ hương (nhựa của cây nhũ hương) và một dược (nhựa của cây một dược) tác dụng hoạt huyết khứ ứ mạnh, trị bế kinh thống kinh, chấn thương ứ huyết…

Nhũ hương (nhựa của cây nhũ hương) và một dược (nhựa của cây một dược) 

tác dụng hoạt huyết khứ ứ mạnh, trị bế kinh thống kinh, chấn thương ứ huyết…

Cách chế biến, sử dụng một dược và nhũ hương:

Dạng thuốc bột

Một dược tán: 

một dược, hồng hoa mỗi vị 5g; diên hồ sách, đương quy mỗi vị 10g.Một dược giã vụn, cùng sao với đăng tâm thảo (cỏ bấc đèn). Sau khi sao, tán thành bột mịn. Cứ 40g một dược dùng 1g đăng tâm thảo.

Để tăng tính giảm đau của một dược, có thể chế một dược với giấm ăn: một dược cho vào chảo, sao nhỏ lửa đến khi mặt ngoài hơi tan ra thì phun giấm ăn vào; tiếp tục sao đến khi mặt ngoài sáng bóng, lấy ra để nguội, rồi tán mịn. Cứ 1kg một dược dùng 60ml giấm ăn. Các vị còn lại sao khô, tán mịn rồi trộn đều với bột một dược nói trên. Mỗi lần uống 6-10g. Ngày 2 lần, trị chứng đau bụng kinh, phụ nữ bế kinh, đau dạ dày.

Nhũ hương, một dược tán:

 nhũ hương, một dược mỗi vị 5g; bạch truật, đương quy, bạch chỉ mỗi vị 10g; nhục quế, cam thảo mỗi vị 3g. Nhũ hương và một dược chế biến như trên, rồi trộn đều bột của các vị thuốc còn lại với bột của nhũ hương và một dược. Ngày uống 3 lần, mỗi lần uống 6 - 10g với rượu hoặc nước đun sôi để nguội, trị sưng đau do chấn thương.

Dạng thuốc thang

Một dược, nhũ hương Chữa tĩnh mạch chi, thể khí huyết ứ 

với các biểu hiện, sắc mặt tối sạm, tinh thần ủ rũ, bứt rứt dễ nóng, đêm đau tăng, chân hoặc tay lạnh, sắc da thâm tím, khô... Dùng bài: hoàng kỳ 16g; đương quy, sinh địa, huyền sâm, tử hoa địa đinh, đan sâm mỗi vị 12g; nhũ hương, một dược, kim ngân hoa, bồ công anh mỗi vị 10g; hồng hoa, diên hồ sách mỗi vị 8g; cam thảo 6g.

Lấy riêng hai vị nhũ hương và một dược ra. Các vị còn lại sắc với nước, sắc 2 lần, mỗi lần đun sôi 45 phút. Lọc lấy nước thuốc lúc còn nóng, cho nhũ hương và một dược vào quấy đều cho tan, chia 3 lần uống trong ngày. Cũng có thể đem nhũ hương, một dược chế theo cách làm bột như trên rồi cho bột vào nước sắc, quấy đều rồi uống.

Một dược, nhũ hương Chữa tĩnh mạch chi, thể nhiệt độc thịnh 

với các biểu hiện, sắc mặt sạm khô, người bứt rứt khó chịu, ù tai chóng mặt, chi mắc bệnh bị đen tím, sưng to, mọng, đau liên tục, tại chỗ bắt đầu lở loét, hoại tử, chi phù, da bóng, chảy nước hoặc chảy máu... Dùng bài: hoàng kỳ, kim ngân hoa mỗi vị 16g; đương quy, đan sâm, tử thảo nhung, xích thược, ngưu tất, địa long mỗi vị 12g; nhũ hương, một dược, địa miết trùng mỗi vị 10g; sinh cam thảo 6g.

Lấy riêng một dược và nhũ hương ra. Địa long và địa miết trùng sao khô, tán bột mịn. Các vị còn lại sắc với nước, sắc 2 lần, mỗi lần đun sôi 45 phút, lọc lấy nước thuốc lúc còn nóng, cho nhũ hương và một dược vào quấy đều, cho tiếp bột địa long và địa miết trùng vào, quấy đều. Uống ấm, ngày 3 lần.

Nhũ hương, một dược là những chất gôm, nhựa, bản chất quánh, dính. Nếu sắc chung với các vị thuốc trên sẽ hạn chế tính tan của các vị thuốc khác làm giảm tác dụng của thuốc. Địa long (giun đất) và địa miết trùng (một loại gián đất) có bản chất là protein, sẽ bị đông vón bởi chất tanin có trong các vị thuốc.

Thịt rắn biển chữa đau cột sống

 Hải xà nhục là tên thuốc của thịt rắn biển - một thực phẩm bổ dưỡng và vị thuốc tốt của nhân dân vùng biển. Rắn biển có rất nhiều loài nhưng chỉ có vài loài được dùng làm thuốc phổ biến như rắn khoang, rắn vết và rắn cơm.

Rắn biển Belcher là loài độc nhất thế giới
                          

                               Thịt rắn biển chữa đau cột sống

Người ta đánh bắt rắn biển cùng với việc đánh cá vào tháng 4-9 hàng năm. Bắt rắn về rửa sạch, buộc đầu rồi treo lên hoặc ghim đầu vào một tấm ván, cầm đuôi kéo căng mình rắn, lấy dao sắc rạch một đường từ cổ họng xuống đến tận đuôi. Bỏ phủ tạng và chỉ giữ lại mật và lớp mỡ. Rửa sạch máu ở mình rắn bằng cồn 90 độ (không rửa nước) rồi phơi hoặc sấy khô. Nếu muốn lấy tiết thì trước khi buộc hoặc ghim rắn, cầm đầu rắn, cứa đứt động mạch cổ cho máu chảy ra, hứng lấy để riêng.

Về mặt y học, thịt rắn biển - hải xà nhục, có vị mặn, mùi tanh, tính ẩm, có tác dụng chống viêm, giảm đau rõ rệt, đặc trị viêm đa khớp dạng thấp, thoái hóa và đau cột sống, viêm thần kinh tọa. Dùng dạng rượu ngâm riêng từng loại hoặc hỗn hợp 3 loại: rắn khoanh, rắn vết và rắn cơm với tỷ lệ một phần thịt rắn với 3 phần rượu 40 độ, ngâm trong 15-20 ngày, càng lâu càng tốt.Có nơi người ta còn chôn cả bình rượu rắn xuống đất để hàng năm mới dùng. Mỗi ngày uống 20ml sau bữa ăn chiều. Hoặc nấu thịt rắn lẫn xương với 3 lần nước rồi cô thành cao mềm (cao toàn tính). Ngày uống 5-10g hòa với rượu hâm nóng và ít mật ong. Cũng có thể lấy thịt và xương rắn biển sấy khô, tán bột, rây mịn, rồi làm thành viên mà uống; Tác dụng giảm đau nhanh, giúp bệnh nhân ăn ngủ tốt, tăng cân.

Ngoài ra, mật rắn biển (hải xà đởm) và tiết rắn biển (hải xà huyết) cũng có tác dụng chống viêm, giảm đau, an thần, gây ngủ.

Chanh vị thuốc thanh nhiệt, sát khuẩn

 Theo Đông y, tất cả các bộ phận của cây chanh đều là những vị thuốc tốt trong y học cổ truyền. Rễ chanh thu hái quanh năm, rễ nhỏ dùng cả; rễ to chỉ lấy vỏ.

Rễ chanh vị đắng, tính ôn, có tác dụng chỉ khái, bình suyễn, hành khí, chỉ thống. Lá chanh chứa tinh dầu, có vị ngọt, tính ôn, có tác dụng thanh nhiệt, hóa đờm, chỉ khái, sát khuẩn. Quả chanh vị chua, tính bình có tác dụng kích thích tiêu hóa, gây trung tiện, chữa đầy bụng. Vỏ quả chanh còn là nguyên liệu để sản xuất tinh dầu cho vào nước tắm chữa chứng hay hoảng hốt, sợ hãi, trầm uất. Hạt chanh chứa dầu béo và chất đắng chữa ho, mất tiếng, chữa ngộ độc... Sau đây là những bài thuốc từ cây chanh

Rễ chanh Chữa ho lâu ngày, ho gà, mất tiếng: 

Dùng 1 trong số bài thuốc sau

Bài 1: rễ chanh 10g, vỏ rễ dâu hoặc tầm gửi cây dâu 10g, lá trắc bá 8g, thái nhỏ, sao vàng, sắc với 200ml nước, còn 50ml, uống trong ngày.

Bài 2: rễ chanh 12g, lá chua me đất hoa vàng 10g, lá hẹ 8g, lá xương sông 8g, hạt mướp đắng 5g, phèn phi 2g. Sắc uống (có thể thêm đường cho dễ uống).

Bài 3: hạt chanh 10g, hoa đu đủ đực 15g, lá hẹ 15g. Các dược liệu cho vào máy xay sinh tố nghiền nát với 200ml nước, thêm mật ong hoặc đường kính, chia uống trong ngày.

Bài 5: Lá chanh 4g, lá táo 4g, rễ cỏ gà 4g, vỏ quýt 1g. Sắc uống.

Rễ chanh Chữa đau răng, sâu răng

Rễ chanh 12g, rễ cây cà dại 10g, vỏ cây lai 10g, vỏ cây trám 10g. Sắc lấy nước đặc, ngậm trong 5 -10 phút rồi nhổ bỏ.

Lá chanh Chữa cảm cúm, nhức đầu: 

Lá chanh, lá bưởi, lá tre, cúc tần, hương nhu, mỗi thứ 50g; bạc hà 20g, sả 2 củ, tỏi 3 nhánh. Tất cả dùng tươi cho vào nồi nấu sôi rồi đem xông cho ra mồ hôi.

Dịch chanh Chữa hắc lào, lở chốc:

 Dịch chanh 1 thìa cà phê hòa với bột long não1g, rễ cây hoa bạch xà giã nhỏ bôi vào vết thương.

Lá chanh Trị mụn có mủ:

 Lá chanh, lá gai tầm xọng hoặc lá bưởi bung, tinh tre, phơi khô tán bột, rây mịn, rắc hàng ngày.

Hạt chanh Chữa ngộ độc: 

hạt chanh 10g, gừng tươi 3 lát, phèn chua 1g. Tất cả giã nhỏ, thêm nước, gạn uống làm 1 lần.

Rễ chanh Chữa rắn cắn:

 rễ chanh 8g, hạt chanh 4g, gừng 2g, phèn chua 2g, giã nhỏ, thêm 100ml nước sôi để nguội, lọc kỹ, chia 2 lần. Mỗi lần uống cách nhau 2 giờ.

Rau dấp cá thuốc trị nhiều bệnh

 Dấp cá (diếp cá) là cây gia vị được nhiều người yêu thích.

Rau dấp cá có mùi vị hơi tanh, có tác dụng tiêu ung thũng, lợi tiểu chống viêm, được coi như một kháng sinh thực vật. Nhân dân dùng rau dấp cá chữa các bệnh chốc đầu ghẻ lở, trĩ, đau răng, sốt rét, tiểu buốt, trẻ em sốt cao co giật, phụ nữ bị đau vú tắc sữa, rắn cắn, sởi, thủy đậu, ho, viêm họng... Liều dùng: 2 - 12g/ngày (loại khô), 20 - 40g/ngày (loại tươi). Xin giới thiệu một số bài thuốc có dùng rau dấp cá.

Tác dụng của rau diếp cá trị mụn với da mặt giúp sạch da sáng bóng

Rau dấp cá chữa Đau nhức răng

Rau dấp cá 30g, thương nhĩ 20g, kinh giới 20g, vỏ cây gạo 20g. Các vị cho vào nồi, đổ nước vừa đủ, nấu sôi kỹ, chắt lấy nước thuốc ngậm nhiều lần trong ngày.

Rau dấp cá chữa Tiểu buốt tiểu rắt: 

 dấp cá 20g, lá tre 20g, đinh lăng 20g, mã đề thảo 20g, râu ngô 10g, hương nhu 16g. Cho các vị vào ấm, đổ nước vừa đủ nấu sôi 10 phút, chia uống 2- 3 lần trong ngày.

Rau dấp cá chữa Bệnh trĩ:

 rau dấp cá 30g, nhân hạt gấc 2 cái. Nhân hạt gấc sao vàng cùng với rau dấp cá giã nhỏ mịn, đắp vào nơi trì, băng lại. Nên thực hiện vào buổi tối lúc đi ngủ. Làm 2 - 3 đêm sẽ hiệu quả.

Rau dấp cá chữa Trẻ em sốt cao: 

rau dấp cá 30g, lá hương nhu 30g. Hai thứ rửa sạch giã nhỏ vắt lấy nước cốt cho trẻ uống 1 chén, sốt sẽ giảm.

Rau dấp cá chữa Viêm đại tràng: 

rau dấp cá khô 20g, tất bát 20g, cao lương khương 12g, sơn thù 10g, hoài sơn 12g, bạch truật 12g, cam thảo 10g, bạch linh 10g, trần bì 10g, ngũ gia bì 12g. Các vị cho vào nồi, đổ 1.400ml nước sắc lấy 350ml nước, chia 2 - 3 lần uống trong ngày. Lưu ý kiêng chất tanh và cay nóng.

Rau dấp cá chữa Tiểu buốt tiểu đỏ do bàng quang bị thấp nhiệt: 

rau dấp cá 30g, đinh lăng 20g, huyền sâm 12g, hoàng kỳ 12g, bạch mao căn 16g, chi tử 10g, hoàng đằng 10g, cát căn 16g, xa tiền 10g, thương nhĩ tử 16g, rễ bí đỏ 16g. Các vị cho vào nồi, đổ 1.000ml nước, sắc lấy 200ml nước thuốc. Sau đó đổ tiếp 800ml nước, sắc lấy 200ml. Hòa chung hai lần nước lại, đun sôi, chia 2 - 3 lần uống trong ngày.

Rau dấp cá chữa Phụ nữ đau, vú tắc tia sữa:

 rau dấp cá 20g, đinh lăng 20g, xương bồ 16g, kim ngân 16g, bồ công anh 16g. Các vị cho vào nồi, đổ 800ml sắc còn 300ml nước, chia 2 lần uống trong ngày. Uống khi nước thuốc còn nóng.

Vẩy ốc hay trâu cổ thuốc trị nhiều bệnh

 Cây vẩy ốc còn gọi cây trâu cổ, cây xộp... Tên khoa học: Ficus pumila L. Họ Dâu tằm (Moraceae).

Cây trâu cổ mọc hoang ở nhiều nơi, được trồng cho bám lên tường hay cây to để làm cảnh hay che mát. Bộ phận dùng làm thuốc là quả (Bị lệ thực, Lương phấn quả, Vương bất lưu hành); cành mang lá; quả non phơi khô (Bị lệ lạc thạch đằng).

Theo Đông y, quả trâu cổ có vị ngọt, tính mát, tác dụng tráng dương, cố tinh, lợi thấp, thông sữa. Thân và rễ vị hơi đắng, tính bình, tác dụng khu phong, hoạt huyết, giải độc. Lá có vị hơi chua chát, tính mát, tác dụng tiêu thũng giải độc.

Cây vầy ốc (trâu cổ) được trồng làm cảnh và làm thuốc trị nhiều bệnh.

Cây vầy ốc (trâu cổ) làm thuốc trị nhiều bệnh.

Quả trâu cổ dùng làm thuốc bổ, chữa di tinh, liệt dương, đau lưng, lỵ lâu ngày, kinh nguyệt không đều, viêm tinh hoàn, phong thấp, ung thũng, thoát giang (lòi dom), tắc tia sữa, đái ra dưỡng chấp; được dùng thay vị thuốc “Vương bất lưu hành”. Thân và rễ dùng chữa phong thấp tê mỏi, sang độc ung nhọt và kinh nguyệt không đều. Lá chữa viêm khớp xương, nhức mỏi chân tay, đòn ngã tổn thương, mụn nhọt, đinh sang ngứa lở.

Trâu cổ có tác dụng bổ khí huyết nên còn dùng thay vị hoàng kỳ trong một số đơn thuốc.

Bài thuốc có trâu cổ:

Trâu cổ Chữa tắc tia sữa, sưng vú, ít sữa:

 quả trâu cổ  40g, bồ công anh 15g, lá mua 15g. Sắc uống. Kết hợp lấy lá bồ công anh giã nhỏ, cho ít dấm, chưng nóng chườm hay đắp ngoài.

Trâu cổ Chữa đau xương, đau người , làm thuốc bổ, điều kinh, giúp tiêu hóa:

dùng cao quả trâu cổ: quả chín thái nhỏ, nấu với nước, lọc bỏ bã, cô thành cao. Ngày uống 5 - 10g.

Rượu bổ chữa di tinh liệt dương: cành và lá, quả non trâu cổ phơi khô 100g, đậu đen 50g. Xay thô 2 vị thuốc, ngâm với 250ml rượu trắng trong 10 ngày là được. Ngày uống 10 - 30ml.

Trâu cổ Chữa thấp khớp mạn tính: 

cành lá trâu cổ 20g, rễ cỏ xước 20g, phục linh 20g, rễ tầm xuân 20g, dây rung rúc 12g, thiên niên kiện 10g, rễ gấc 10g, lá lốt 10g, dây đau xương 10g, tang chi 10g. Sắc 2 lần, lấy khoảng 400ml nước thuốc, cô thật đặc. Hòa với rượu, chia uống 3 lần trong ngày.

Trâu cổ Thanh nhiệt giải khát

quả trâu cổ chín, rửa sạch, xay nghiền nát, cho vào túi vải, ép lấy nước. Nước để yên sẽ đông lại như thạch; thái sợi, thêm đường, nước đá và hương liệu vào uống.

Vừng dinh dưỡng cao chữa bệnh rất tốt.

 Với hương thơm đặc trưng cùng vị béo bùi, hạt vừng là một trong những loại hạt quen thuộc từ lâu trong đời sống của chúng ta. Không những mang giá trị dinh dưỡng cao lại là “điểm nhấn hương sắc” cho các loại thực phẩm khác thêm phần hấp dẫn.

Đặc biệt, vừng còn“nổi danh” là một vị thuốc với nhiều tác dụng hữu ích cho sức khỏe và sắc đẹp, được y học dân tộc nhiều quốc gia tin dùng.

Loại cây có từ thời tiền sử

Cây vừng (Sesamum indicum) là loại cây ra hoa thuộc chi vừng (Sesamum), họ vừng (Pedaliaceae), được trồng ở vùng nhiệt đới từ thời tiền sử. Qua nghiên cứu khảo cổ chứng minh khi khai quật một ngôi mộ ở Ai Cập có bức tranh người thợ làm bánh mì thêm hạt vừng vào bột bánh… Khoảng 3000 năm TCN, vừng là một trong những loại cây trồng đầu tiên ở châu Á, người Trung Quốc dùng dầu vừng đốt đèn và sử dụng nó để làm bồ hóng sản xuất mực in. Cây vừng còn gọi là cây mè, chữ Hán gọi là chi ma, hạt vừng là chi ma tử. Sử sách chép rằng, cây vừng vốn ở nước Hồ (tên xưa kia của Ấn Độ), vì vậy, người Trung Hoa gọi cây vừng là hồ ma và hạt vừng là hồ ma tử. Ngoài ra, vừng còn được gọi với nhiều tên khác nhau như du tử miêu, du ma, cẩu sát, cự thắng… Ngày nay, vừng là loại cây đã được thuần hóa, trồng ở các vùng nhiệt đới khắp thế giới để lấy hạt ăn và chữa bệnh.

Vừng là cây thân thảo, cao khoảng1 - 1,5m, có nhiều lông mịn, cây vừng có lá so le mọc từ gốc, hình mác hẹp, có gân. Hoa vừng màu vàng nhạt hoặc hơi hồng. Quả nang, hình trụ dài, khía dọc, chia thành 4 mảnh. Khi chín, 4 mảnh quả tách ra bên trong chứa rất nhiều hạt vừng nhỏ xíu, kỳ diệu. Hạt vừng hình bầu dục, có vỏ màu trắng kem, màu vàng, tím, đen, đỏ. Vừng sinh trưởng trong điều kiện có độ ẩm và nhiều ánh sáng, nhiệt độ từ 25 - 30 độ C. Cuối mùa hạ, đầu mùa thu là lúc quả vừng chín, người ta cắt cả cây, phơi khô, đập lấy hạt.

Hiện 3 nước có sản lượng vừng lớn là Trung Quốc, Ấn Độ, Mexico. Vừng được thu hạt để ép lấy dầu. Dầu vừng là một loại dầu đặc biệt chứa nhiều axit béo không no nên nó khó đông đặc khi thời tiết lạnh, bảo quản được lâu. Ngoài việc dùng trong ẩm thực, dầu vừng còn là một trong những loại dầu phổ biến dùng làm dung môi trong chiết xuất những chất tan trong dầu từ dược liệu, pha loãng tinh dầu thảo dược.

Vừng  dinh dưỡng cao chữa bệnh rất tốt.

Hạt bé nhỏ mang giá trị lớn…

Những hạt vừng nhỏ xíu nhưng lại chứa cả một “kho” dinh dưỡng và thuốc trong đó. Trong hạt vừng có chứa đủ các thành phần dinh dưỡng như protid, lipid, glucid, xơ, vitamin B1, B2, PP, E, các chất khoáng như: Ca, P, K, Na, Mg, Fe, Zn, Se, Cu, Mn… Với 3 loại vừng trắng, vàng, đen thì vừng đen được sử dụng nhiều trong y học.

Theo Y học cổ truyền, vừng có thể được dùng đơn độc hoặc phối các vị thuốc khác chữa trị nhiều bệnh. Theo sách Bản thảo cương mục, hạt vừng bổ dưỡng ngũ tạng, chưng với mật ong chữa được nhiều bệnh. Với Nam y thần dược: “Hạt vừng (ma nhân), dầu vừng (ma du) có vị ngọt, béo, tính bình, quy 4 kinh phế, tỳ, can, thận. Có tác dụng nhuận tràng, bổ khí huyết, bổ ngũ tạng, ích khí lực, bổ não tủy, mạnh gân cốt, sáng tai mắt, ích lão trường thọ”.

Vừng thường được dùng để chữa táo bón, tăng cường dinh dưỡng, lợi sữa ở phụ nữ nuôi con bú, trị lỵ, giải độc, chữa tổn thương do chấn thương, bỏng, mụn nhọt. Đặc biệt, hoạt chất sesamin và sesaminol trong dầu vừng có tác dụng chống tăng huyết áp, hạ cholesterol và chống sự giãn nở của cơ tim, chống oxy hóa, bảo vệ gan.

Giá trị đặc biệt hơn từ hạt vừng bé nhỏ này là khả năng phòng chống ung thư. Với lượng lớn dinh dưỡng cùng các vitamin, khoáng chất thì hạt vừng còn chứa axit phytic là một hợp chất chống ung thư mà ít ai biết tới.Nó hoạt động như một chất chống oxy hóa, ngăn chặn hoạt động của các gốc tự do. Do đó, không chỉ ngăn ngừa bệnh ung thư, hợp chất này còn giúp cơ thể tăng cường hoạt động của hệ miễn dịch, làm chậm quá trình lão hóa, cải thiện và ngăn ngừa bệnh tim mạch, ngăn chặn các bệnh liên quan đến rối loạn nhận thức.

Hàm lượng magie cao trong hạt vừng (với 36g hạt vừng đã cung cấp tới 31,6% nhu cầu magie hằng ngày cho cơ thể) làm giảm và ổn định huyết áp, ngăn chặn những cơn đau tim, đột quỵ. Bên cạnh đó, hạt vừng còn giúp ngăn ngừa sự co thắt đường hô hấp, ngăn ngừa những cơn đau nửa đầu và làm giảm hội chứng tiền mãn kinh… Ngoài ra, các sản phẩm từ hạt vừng có tác dụng ngăn chặn và kiểm soát bệnh tiểu đường ở mọi tình trạng khác nhau, bằng khả năng điều hòa lượng insulin và glucose trong cơ thể; Chất xơ và dầu béo trong hạt vừng giúp thức ăn dễ tiêu hóa hơn, do vậy mà cơ thể cũng tránh được các loại bệnh về đường tiêu hóa.

Món ăn bài thuốc từ vừng

Vừng chữa Suy nhược cơ thể:

 vừng đen, lá dâu non lượng bằng nhau, tán nhỏ, làm hoàn với mật, mỗi hoàn 10g, ngày uống 1 - 2 hoàn.

Vừng chữa táo bón kéo dài: 

vừng đen, lá dâu mỗi vị 100g, sa sâm, mạch môn mỗi vị 200g, tán nhỏ, làm hoàn với mật, mỗi hoàn 10g, ngày uống 1 - 2 hoàn.

Vừng chữa Tăng huyết áp, xơ vữa mạch máu não:

 vừng đen, hà thủ ô, ngưu tất lượng bằng nhau, tán bột, làm hoàn, mỗi hoàn 10g, ngày uống 2 - 3 hoàn.

Vừng chữa Viêm thận mạn tính:

 vừng đen 0,5kg, quả óc chó 0,5kg, táo đỏ vừa đủ. Vừng đen và quả óc chó tán nhuyễn, ngày 3 lần, mỗi lần 20g, sau khi uống, nhai thêm 7 quả táo (đây là 1 liệu trình, uống hết chế biến tiếp).

Vừng chữa Sức yếu, lưng gối mỏi đau: 

vừng đen, thục địa, ý dĩ, rượu với mỗi thứ vừa đủ. Bọc trong túi vải, ngâm trong rượu 1 tuần, dùng uống lúc bụng đói.

Vừng chữa Chức năng gan và thận suy:

 vừng đen, lá dâu với mỗi thứ có lượng bằng nhau, nếp vừa đủ, nấu cháo ăn.

Vừng chữa Mẩn ngứa mề đay: 

vừng đen 10g, táo đen 10g, đậu đen 10g. Sắc uống, ngày 1 thang, uống liên tục.

Vừng chữa Sản phụ thiếu sữa:

 vừng đen 250g, giò heo 2 - 3 cái, gia vị vừa đủ. Giò heo hầm canh, vừng đen sau khi rang tán nhuyễn, uống với canh giò heo, mỗi lần 15g, ngày 3 lần.

Vừng chữa Hen suyễn: 

vừng đen 250g (sao), gừng 120g, đường phèn 100g, mật ong 100g. Gừng vắt lấy nước, trộn với vừng, rồi cho vào chảo rang thơm, để nguội. Đường phèn và mật ong nấu chảy trộn đều với vừng, sau cùng chứa trong một lọ. Mỗi sáng và chiều múc ăn 1 muỗng canh.

Vừng chữa Thiếu máu:

 vừng đen 15g, cẩu kỷ tử 15g, thục địa 20g, đảng sâm 30g, đương quy 10g, bạch thược 10g, sắc uống, ngày 1 - 2 lần.

Vừng chữa Trẻ em ho gà: 

vừng đen 50g, lạc 30g, mật ong 50ml. Tất cả cho vào nồi, thêm nước nấu canh, ăn sau khi nấu chín, ngày 1 lần, dùng liền 3 - 5 ngày.

Vừng chữa Suy giảm trí nhớ, hay quên, mất ngủ:

 vừng đen 250g, quả óc chó 250g, đường vàng 0,5kg. Rang chín vừng và quả óc chó. Đun nước đường cho nước vừa đủ, nấu nhỏ lửa khi đường chảy dính, kéo lên thành sợi, tắt bếp, đổ vào mè đen, quả óc chó, trộn đều, sau khi đổ vào những khuôn có lót dầu ăn, chờ nguội, cắt miếng, mỗi lần dùng 15g, ngày 3 lần, ăn thường xuyên.

Hạt vừng có thể nói như một “vệ sĩ tí hon” luôn song hành “bảo vệ” chúng ta một cách tự nhiên qua các món ăn bài thuốc được dân gian lưu truyền ngàn đời qua. Giá trị của hạt vừng nhỏ bé nhưng kỳ diệu với cơ thể con người có thể vẫn còn nhiều ẩn số… để chúng ta tiếp tục khám phá thêm trong “hành trình” cuộc sống.

 
Design by Free WordPress Themes | Bloggerized by Lasantha - Premium Blogger Themes | Laundry Detergent Coupons