This is featured post 1 title
Replace these every slider sentences with your featured post descriptions.Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these with your own descriptions.
This is featured post 2 title
Replace these every slider sentences with your featured post descriptions.Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these with your own descriptions.
This is featured post 3 title
Replace these every slider sentences with your featured post descriptions.Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these with your own descriptions.
Thứ Hai, 1 tháng 12, 2014
Bí đao “thuốc quý” chống lại bệnh gan
Thường được dùng để chữa các chứng bệnh lý hô hấp có ho
và khạc đờm do nhiệt, bệnh đái đường, phù do bệnh thận, bệnh gan, phù
khi mang thai... Cùng tìm hiểu những tác dụng bất ngờ của “thuốc quý” bí
đao.
Thành phần chủ yếu của bí đao là nước,
nhiều chất xơ, không chứa lipid. Cứ 100g bí đao có 0,4g protid, 2,4g
glucid, 19mg canxi, 12mg phosphor, 0,3mg sắt, nhiều loại vitamin (A, B1,
B2, B3, B9, C, E... và khoáng chất như kali, phosphor, magie...).
Bí đao giúp chữa được nhiều bệnh như hen suyễn, ho gà, ngộ độc, ung thư họng, ung nhọt,...
Không
chỉ chữa bệnh, bí đao còn được xem như một "mỹ phẩm" của riêng chị em
phụ nữ. Do hàm lượng dinh dưỡng thấp, cung cấp ít năng lượng, giàu chất
xơ và yếu tố vi lượng, nên bí đao trở thành loại thực phẩm giúp bạn có
làn da sáng mịn mà lại giảm cân vô cùng hiệu quả.
Với
những chị em lo lắng về nguy cơ tăng cân, hãy dùng bí đao để chế biến
thành món ăn hàng ngày, vừa ngon miệng lại có nhiều tác dụng trong làm
đẹp.
Ngoài công dụng tuyệt vời đem lại cho sức khỏe từ ruột bí đao, vỏ bí đao cũng được dùng làm các vị thuốc chữa bệnh rất hữu dụng.
Chữa
viêm tuyến tiền liệt, tiểu nhiều lần: vỏ bí đao 50g, đậu tằm 60g, nước 3
bát. Cho tất cả nguyên liệu trên vào nồi cùng với 3 bát nước, sắc còn 1
bát, bỏ bã dùng uống (nếu người bệnh dị ứng với đậu tằm thì không dùng
bài thuốc này).
Chữa bỏng: vỏ bí đao sấy khô tán bột, trộn dầu vừng bôi đắp.
Phù khi có thai:
bí đao cả vỏ lượng tùy ý, muối vừa ăn. Nấu nhừ để ăn. Công hiệu: kiện
tỳ, hành thủy, an thai, chủ trị phụ nữ bị phù thũng khi mang thai loại
hình tỳ hư thấp trở. Thêm táo to, công hiệu tốt hơn.
Chữa phong nhiệt, táo nhiệt, ho: vỏ bí đao 15g, mật ong một ít. Chưng nóng ăn, mỗi ngày 2 lần.
Thanh nhiệt giải độc, cầm máu: vỏ bí đao, đậu đỏ, mỗi thứ lượng thích hợp. Sao sơ, đổ nước vào nấu uống thay trà.
Chữa ung nhọt ngoài da:
vỏ bí đao 20g, hoa cúc vàng 15g, thược dược đỏ 12g, mật ong một ít. Nấu
lấy nước uống thay trà, mỗi ngày 1 lần, dùng liên tiếp 7 ngày.
Không chỉ vỏ bí đao, ruột bí đao mới có tác dụng chữa bệnh mà ngay cả hạt bí đao cũng góp mặt rất nhiều trong các bài thuốc.
Như bài thuốc chữa bệnh Bạch đới: hạt bí đao lâu năm (trần đông qua nhân) rang nghiền bột, uống 15g mỗi lần vào lúc đói.
Thuốc trường thọ: Cho
hạt bí vào túi lụa, luộc sôi trong nước 1 giờ, lấy ra phơi khô. Làm 3
lần như vậy rồi ngâm vào dấm gạo 1 đêm, phơi khô, tán bột. Ngày uống 1
lần, mỗi lần 1 thìa canh.
Phổi có ung nhọt (viêm, áp-xe...):
hạt bí đao, các vị bồ công anh, kim ngân hoa, ý dĩ sống, diếp cá mỗi
thứ 40g; rễ lau 20g; hạt đào cát cánh, cam thảo, mỗi thứ 10g sắc uống.
Tàn nhang: hạt bí 350g, hạt sen 30g, bạch chỉ 15g. Tất cả nghiền mịn. Hàng ngày uống sau bữa cơm. Chiêu bằng nước đun sôi để nguội.
Có thai phù thũng do tỳ hư: hạt bí đao 20g, trần bì 6g, mật ong 50g, nấu chín ăn ngày 2 lần trong vài ba ngày.
Theo B.T - Lao độngTrị hôi miệng tận gốc với cây thì là
Nguyên nhân bị hôi miệng
Khi thức ăn sót lại trong miệng hay giữa các kẽ răng, bị vi khuẩn phân hóa, sẽ tạo ra mùi hôi.
Nhiễm trùng ở nướu răng.
| Cây Thì là là một loại thảo mộc tốt cho sức khỏe. |
Bựa vôi đóng vào chân răng là môi trường tốt cho vi khuẩn tác dụng vào và đưa đến hôi miệng.
Lưỡi bị viêm là nơi mà mảnh vụn thực phẩm dễ dính lại và là môi trường tốt cho vi khuẩn phân hủy protein tạo ra mùi hôi.
Miệng khô khi nước miếng giảm trên 50% mức độ bình thường. Nước miếng có nhiệm vụ giữ miệng ẩm, giúp tiêu hóa thực phẩm, giảm các thay đổi về tính acid trong miệng và tiêu hóa tinh bột. Khi tính acid miệng cao thì vi khuẩn tăng sinh nhiều hơn.
Trị hôi miệng với thì là
Thì là là một loại thảo mộc được sử dụng rất phổ biến trong nấu ăn. Bạn hoàn toàn có thể sử dụng loại cây gia vị này để loại bỏ hơi thở khó chịu. Lấy một thìa thì là và từ từ nhai. Thì là có đặc tính kháng khuẩn có thể ngăn chặn hơi thở có mùi.
Ngay việc nhai hạt cây thì là trộn với hạt của các hương liệu khác như đinh hương và bạch đậu khấu sau khi ăn những thực phẩm có mùi cũng có thể giúp đỡ rất nhiều trong việc kiểm soát hơi thở khó chịu.
Theo Thu Thu - Khỏe và Đẹp
Quả khế - dược liệu vàng cho sức khỏe
Quả khế có hàm lượng chất dinh dưỡng dồi dào vitamin C, vitamin B1, B2, B3, B6, protein, glucid, lipid, chất xơ, năng lượng... cực tốt cho sức khỏe.
Khoa học hiện đại đã xác định trong thành phần của khế múi, có các chất theo g%: nước 92, protid 0,6, glucid 3,1; cellulose 2,6; và theo mg%: calcium 10; phosphor 8; sắt 0,9; caroten 160; vitamin B1 0,05; vitamin C 30.| Quả khế - dược liệu vàng cho sức khỏe. |
Với hàm lượng chất dinh dưỡng dồi dào vitamin C, vitamin B1, B2, B3, B6, protein, glucid, lipid, chất xơ, năng lượng (33kcal/100g), sắt, kẽm…, quả khế mang lại rất nhiều lợi ích cho sức khỏe.
Chất xơ hoà tan trong quả khế còn có khả năng kích thích nhu động ruột, hỗ trợ tiêu hóa, giảm lượng đường huyết và ngừa bệnh tim mạch.
Không chỉ vậy, thành phần beta carotene trong quả khế còn có tác dụng chuyển hoá thành vitamin A giúp tăng cường thị lực.
Quả khế chứa một tác nhân kháng khuẩn có thể "chiến đấu" với các loại khuẩn như microbial bacillus cereus, e.coli, salmonella typhus…
Mỗi quả khế trung bình chỉ chứa khoảng 30 calo nhưng lại chứa rất nhiều chất xơ, vitamin C, chất chống oxy hóa và flavonoids, do đó khế là loại quả lý tưởng cho những ai muốn giảm cân mà vẫn đảm bảo chất dinh dưỡng, lại có làn da đẹp mịn màng trẻ trung, tránh táo bón.
Khế còn chứa các vitamin A, B5 giúp quá trình trao đổi chất hoạt động trơn tru và suôn sẻ hơn. Ngoài ra, khế còn là nguồn vitamin B9 (axit folic) giúp giảm nguy cơ mắc bệnh tim mạch và đột quỵ, làm giảm lượng cholesterol.
Quả khế còn được khuyên dùng cho các bà mẹ đang cho con bú vì khế giúp kích thích sữa về nhiều hơn.
Bên cạnh đó, quả khế còn có khả năng kháng viêm và tăng cường hệ miễn dịch cho cơ thể chống lại các bệnh tật nhờ vào lượng vitamin C dồi dào chứa. Vitamin C là một loại chất chống ôxy hóa mạnh mẽ, giúp ngăn ngừa và điều trị bệnh cảm, đồng thời giúp cơ thể tổng hợp chất collagen làm da mặt mịn màng và tràn đầy sức sống.
Theo Thanh Lê - Khỏe và Đẹp
Bài thuốc chữa bệnh từ cây bạch hạc
Đông y cho rằng, cây bạch hạc có vị ngọt dịu và dịu, tính bình, có công năng chống ho, sát khuẩn, chống ngứa, trừ phong thấp.
Bạch hạc còn gọi là nam uy linh tiên, cây kiến cò, có tên khoa học là Rhinacanthus communis Nees., họ Ô rô (Acanthaceae).
Là cây nhỏ mọc thành bụi, cao 1 - 2m, có
rễ chùm. Thân non có lông mịn. Lá mọc đối, có cuống, phiến hình trứng
thuôn dài, mặt trên nhẵn, mặt dưới hơi có lông mịn… Cây mọc hoang, được
trồng ở nhiều nơi bằng gốc, thu hái quanh năm, dùng tươi hay phơi khô.
Bộ phận dùng làm thuốc là rễ (Radix Rhinacanthi).
Đông y cho rằng, cây bạch hạc có vị ngọt
dịu và dịu, tính bình, có công năng chống ho, sát khuẩn, chống ngứa,
trừ phong thấp. Liều trung bình thường dùng hằng ngày cho thuốc bạch hạc
để uống từ 10 15g dưới dạng thuốc sắc, dùng riêng hoặc phối hợp với
các vị thuốc khác. Rễ có thể rửa sạch, ngâm trong rượu, dấm để làm thuốc
trị bệnh nấm da…
Dưới đây là vài phương trị bệnh từ cây bạch hạc:
- Chữa huyết áp cao, trị phong thấp,
nhức gân, tê bại. Mỗi ngày uống từ 10 – 15g dưới dạng thuốc sắc, dùng
riêng hoặc phối hợp với các vị thuốc khác. Rễ có thể rửa sạch, bóc lấy
vỏ phơi khô ngâm trong rượu, giấm để uống dần.
- Chữa lao phổi: Lấy thân và lá bạch hạc 20g, sắc nước, cho thêm đường uống hằng ngày.
- Chữa eczema, hắc lào, lang ben: Rễ cây
bạch hạc 50g, thái nhỏ, giã nát; cồn etylic 70 độ 100ml. Ngâm rễ cây
kiến cò đã được giã nát trong vòng 1-2 tuần, sau đó lọc qua vải xô, lấy
dịch thuốc bôi vào vùng da bị hắc lào, lang ben ngày 2 lần đến khi
khỏi.
- Đau thần kinh tọa do lạnh: Rễ cây bạch
hạc 8g, rễ lá lốt 12g, ráy sơn thục 12g, cẩu tích 16g, quế chi 8g, ngải
cứu 8g, vỏ quýt 8g, rễ cỏ xước 12g. Sắc uống ngày 1 thang. Phương này
giúp khu phong tán hàn, hành khí hoạt huyết, giảm đau. Uống liền từ 10 –
15 thang.
Theo BS Hoàng Tuấn Long - Nông nghiệp Việt NamDùng mật chữa bệnh: nên hay không?
Dùng mật chữa bệnh là cách nhiều người sử dụng nhằm giúp tăng cường sức khỏe, chữa bệnh sỏi mật, sỏi thận, đau nhức… đúng sai ra sao.
Nuốt mật để khỏe?
- Ở các quán nhậu, rắn được làm tại chỗ. Mật rắn tươi được quý ông nuốt “trọn gói”, hoặc pha với rượu, được cho là để chữa chứng nhức xương, phong thấp.
- Mật gấu được dùng phổ biến nhất vì có công dụng tan máu bầm, chữa đau nhức… Phần lớn các anh uống rượu pha mật gấu với hy vọng… khỏe như gấu. Mật được lấy trực tiếp từ gấu đang sống, sau đó cho vào rượu.
- Mật cá trắm được dân vùng sông nước sử dụng để điều trị một số loại bệnh như nhức mỏi, giảm thị lực, hen suyễn, mề đay… Cách dùng mật cá trắm chữa bệnh rất đơn giản, chỉ cần làm cá, moi ruột, giữ nguyên túi mật rồi “nuốt trọng”, sau đó chờ “thuốc” phát huy tác dụng.
- Mật vịt, mật gà cũng được sử dụng để trị bệnh chỉ vì vịt, gà ăn sạn sỏi, tôm, cua… đều được tiêu hóa hết.
Khuyến cáo
Theo BS Nguyễn Cao Cương - BV Bình Dân TP.HCM, hiện chưa có nghiên cứu khoa học nào chứng minh việc sử dụng mật động vật sẽ điều trị được sỏi mật. Mật người không bị sỏi thì vô trùng, khi túi mật có sỏi mật thì mật đã nhiễm trùng từ 50-90%. Mật của động vật chắc chắn có vi trùng và siêu vi, vì thức ăn, nhất là những động vật hoang dã sống vùng rừng núi, có những siêu vi lây cho người như chim, vịt trời gây cúm gà, tinh tinh gây nhiễm HIV, dơi gây nhiễm Ebola…
Với mật cá trắm, loại to trên 3kg, sau khi nuốt vào vài giờ, người nuốt đã thấy đầy hơi, đau bụng, khó thở, ói mửa, nóng trong bụng, dễ ngất xỉu. TS Trần Quang Bính - Khoa Nhiệt đới BV Chợ Rẫy TP.HCM, từng điều trị các trường hợp ngộ độc mật cá nhận xét: “Cách dùng mật tươi chữa bệnh là phản khoa học, chẳng những không chữa được bệnh mà còn mắc bệnh nguy hiểm như: suy thận, nhiễm trùng huyết…”.
Thức ăn lợi mật
Việc sử dụng mật của một số loài thú hoang dã là vi phạm pháp luật. Riêng mật cá trắm, do có nhiều người sau khi dùng bị ngộ độc phải nhập viện điều trị, thậm chí tử vong nên Cục An toàn thực phẩm đã yêu cầu không nên dùng mật cá trắm để chữa bệnh dưới bất kỳ hình thức nào.
Theo Đông y, các loại mật vịt, gà, heo… cung cấp thêm dịch mật cho cơ thể. Lương y Đinh Công Bảy - Hội Dược liệu TP.HCM hướng dẫn “Không nuốt mật tươi hoặc cho cả túi mật vào ly rượu, vì dễ bị nhiễm độc. Dùng đúng cách là phơi khô cả túi mật. Khi dùng cắt ra từng khúc nhỏ, nấu chín. Có thể nấu với cháo, canh… Một túi mật chia ra làm nhiều lần để ăn. Tuy nhiên, việc sử dụng mật nên hỏi ý kiến lương y trước khi sử dụng”.
Những món lợi mật thường có vị đắng như rau đắng, cải đắng, khổ qua… Vì vậy, nên bổ sung những món như: cháo cá rau đắng, lẩu mắm ăn với rau đắng, canh khổ qua nhồi thịt, khổ qua xào trứng, canh cải nấu gà, cải xào bò… vào danh sách món ăn thường ngày, vừa giúp thay đổi khẩu vị, vừa hỗ trợ gan mật. Trong các gia vị người xưa sử dụng làm món ăn có nghệ. Nghệ được coi như kháng sinh thiên nhiên vì có tính kháng khuẩn. Diệt khuẩn hệ tiêu hóa giúp hạn chế sỏi xuất hiện do nhiễm trùng. Có rất nhiều món ăn có nghệ như: cá kho nghệ, thịt heo xào nghệ…
Về nước uống, atiso và nhân trần có thể dùng khi suy giảm chức năng gan, không đủ mật nên khó hấp thu (ăn không tiêu, ăn dầu mỡ nhiều thấy ứ, khó chịu, đầy bụng, khó tiêu, tiêu chảy…). Dùng 15-20g atiso, nhân trần khô nấu nước uống như uống nước trà. Người khỏe mạnh thỉnh thoảng dùng để tăng cường sức khỏe cho gan mật.
Tây y cũng có một số thuốc giúp lợi gan tốt mật như cốm nghệ, BAR, Chophytol, Sulfarlem Choline… giúp mật bài tiết nhiều hơn, dễ tiêu hóa hơn và có thể làm mật ít kết tụ thành sỏi hơn.
- Ở các quán nhậu, rắn được làm tại chỗ. Mật rắn tươi được quý ông nuốt “trọn gói”, hoặc pha với rượu, được cho là để chữa chứng nhức xương, phong thấp.
- Mật gấu được dùng phổ biến nhất vì có công dụng tan máu bầm, chữa đau nhức… Phần lớn các anh uống rượu pha mật gấu với hy vọng… khỏe như gấu. Mật được lấy trực tiếp từ gấu đang sống, sau đó cho vào rượu.
- Mật cá trắm được dân vùng sông nước sử dụng để điều trị một số loại bệnh như nhức mỏi, giảm thị lực, hen suyễn, mề đay… Cách dùng mật cá trắm chữa bệnh rất đơn giản, chỉ cần làm cá, moi ruột, giữ nguyên túi mật rồi “nuốt trọng”, sau đó chờ “thuốc” phát huy tác dụng.
- Mật vịt, mật gà cũng được sử dụng để trị bệnh chỉ vì vịt, gà ăn sạn sỏi, tôm, cua… đều được tiêu hóa hết.
Khuyến cáo
Theo BS Nguyễn Cao Cương - BV Bình Dân TP.HCM, hiện chưa có nghiên cứu khoa học nào chứng minh việc sử dụng mật động vật sẽ điều trị được sỏi mật. Mật người không bị sỏi thì vô trùng, khi túi mật có sỏi mật thì mật đã nhiễm trùng từ 50-90%. Mật của động vật chắc chắn có vi trùng và siêu vi, vì thức ăn, nhất là những động vật hoang dã sống vùng rừng núi, có những siêu vi lây cho người như chim, vịt trời gây cúm gà, tinh tinh gây nhiễm HIV, dơi gây nhiễm Ebola…
Với mật cá trắm, loại to trên 3kg, sau khi nuốt vào vài giờ, người nuốt đã thấy đầy hơi, đau bụng, khó thở, ói mửa, nóng trong bụng, dễ ngất xỉu. TS Trần Quang Bính - Khoa Nhiệt đới BV Chợ Rẫy TP.HCM, từng điều trị các trường hợp ngộ độc mật cá nhận xét: “Cách dùng mật tươi chữa bệnh là phản khoa học, chẳng những không chữa được bệnh mà còn mắc bệnh nguy hiểm như: suy thận, nhiễm trùng huyết…”.
Thức ăn lợi mật
Việc sử dụng mật của một số loài thú hoang dã là vi phạm pháp luật. Riêng mật cá trắm, do có nhiều người sau khi dùng bị ngộ độc phải nhập viện điều trị, thậm chí tử vong nên Cục An toàn thực phẩm đã yêu cầu không nên dùng mật cá trắm để chữa bệnh dưới bất kỳ hình thức nào.
Theo Đông y, các loại mật vịt, gà, heo… cung cấp thêm dịch mật cho cơ thể. Lương y Đinh Công Bảy - Hội Dược liệu TP.HCM hướng dẫn “Không nuốt mật tươi hoặc cho cả túi mật vào ly rượu, vì dễ bị nhiễm độc. Dùng đúng cách là phơi khô cả túi mật. Khi dùng cắt ra từng khúc nhỏ, nấu chín. Có thể nấu với cháo, canh… Một túi mật chia ra làm nhiều lần để ăn. Tuy nhiên, việc sử dụng mật nên hỏi ý kiến lương y trước khi sử dụng”.
Những món lợi mật thường có vị đắng như rau đắng, cải đắng, khổ qua… Vì vậy, nên bổ sung những món như: cháo cá rau đắng, lẩu mắm ăn với rau đắng, canh khổ qua nhồi thịt, khổ qua xào trứng, canh cải nấu gà, cải xào bò… vào danh sách món ăn thường ngày, vừa giúp thay đổi khẩu vị, vừa hỗ trợ gan mật. Trong các gia vị người xưa sử dụng làm món ăn có nghệ. Nghệ được coi như kháng sinh thiên nhiên vì có tính kháng khuẩn. Diệt khuẩn hệ tiêu hóa giúp hạn chế sỏi xuất hiện do nhiễm trùng. Có rất nhiều món ăn có nghệ như: cá kho nghệ, thịt heo xào nghệ…
Về nước uống, atiso và nhân trần có thể dùng khi suy giảm chức năng gan, không đủ mật nên khó hấp thu (ăn không tiêu, ăn dầu mỡ nhiều thấy ứ, khó chịu, đầy bụng, khó tiêu, tiêu chảy…). Dùng 15-20g atiso, nhân trần khô nấu nước uống như uống nước trà. Người khỏe mạnh thỉnh thoảng dùng để tăng cường sức khỏe cho gan mật.
Tây y cũng có một số thuốc giúp lợi gan tốt mật như cốm nghệ, BAR, Chophytol, Sulfarlem Choline… giúp mật bài tiết nhiều hơn, dễ tiêu hóa hơn và có thể làm mật ít kết tụ thành sỏi hơn.
Theo Phương Nam - Phụ Nữ Online
Xạ can giúp trị lao hạch
Xạ can có tên khoa học là Belamcanda sinensis (L) DC., thuộc họ lay ơn (Iridaceae) hay còn gọi là cây rẻ quạt.
| Ảnh minh họa. |
Xạ can không chỉ là một cây thuốc quý chữa bệnh viêm họng mà còn là cây hoa cảnh đẹp, phù hợp thủy thổ nước ta.
Xạ can có vị đắng, tính hàn vào
kinh Can và Phế. Công dụng: Chủ trị thanh hỏa, giải độc, tán huyết, tiêu đàm, viêm yết hầu, ho đàm,
sốt rét.
Trị loa lịch (lao hạch): Xạ can
40g, chích thảo 40g, đại hoàng 80g, đương quy 40g, huyền sâm 40g, liên kiều 40g, mộc hương 40g, sơn
chi 40g, thăng ma 40g, tiền hồ 40g, tử nhân 40g, xích thược 40g. Mỗi lần dùng 12g, sắc xong bỏ bã,
hòa thêm 1 ít mang tiêu vào uống ấm.
Trị ho mà khí nghịch lên, trong
họng có nước khò khè như gà kêu: Xạ can 13 củ, ma hoàng 120g, sinh khương 120g, tế tân, tử uyển,
khoản đông hoa đều 90g, ngũ vị tử 1/2 40g, đại táo 7 trái, bán hạ (chế). Sắc ma hoàng trước cho
sôi, vớt bỏ bọt, cho các vị kia vào nấu còn 3 bát, chia làm 3 lần, uống ấm.
Trị phong độc công lên trên,
họng sưng đau: Cát căn 80g, chích thảo 80g, hạnh nhân 60g, ma hoàng 40g, ngưu bàng tử 40g, phong
hương 40g, thăng ma 80g, xạ can 40g, xích thược 40g, tán bột. Mỗi lần dùng 12g.
Trị trị trẻ nhỏ ho nghịch, suyễn
cấp, họng như co nước: Bán hạ 12g, chích thảo 20g, đại táo 20 trái, ma hoàng 20g, quế tâm 8g, sinh
khương 20g, tử uyển 20g, xạ can 20g. Sắc uống, uống ấm.
Lương y Phan Thị Thạnh - Kiến thức
Đinh lăng - cây thuốc tăng lực, chữa lành vết thương
Cây đinh lăng vừa dùng làm cảnh, vừa là thứ rau ăn kèm với một số món ăn; ngoài ra, cây còn được dùng để làm thuốc
Đinh lăng có tên khoa học là Polyscias fruticosa
(L…) Harms, cùng họ với cây nhân sâm (sâm Triều Tiên) nổi tiếng (họ
Araliaceae).
Đinh lăng là một loại cây nhỏ, sống
nhiều năm, cao từ 0,8-1,5m, thân nhẵn không có gai và phân nhánh nhiều.
Lá kép 3 lần xẻ lông chim, dài 20-40cm. Phiến lá kép có thùy sâu và mép
có răng cưa không đều. Vò ra lá có mùi thơm.
Cụm
hoa là một khối hình chùy ngắn, gồm nhiều tán đơn hợp lại. Mỗi tán mang
nhiều hoa nhỏ có cuống ngắn. Hoa 5 cánh trắng hình trứng, dài 2mm có 5
nhị với chỉ nhị ngắn và mảnh, bầu dưới có 2 ô có rìa trắng nhạt. Quả dẹt
màu trắng bạc dài 3-4mm, dày 1mm, mang vòi tồn tại.
| Đinh lăng là cây thuốc có nhiều tác dụng đối với sức khỏe |
Tác dụng tăng lực của cây đinh lăng
Khoảng
40-50 năm trở lại đây, nhiều nhà khoa học trên thế giới đã chú ý đến
tác dụng tăng lực, bồi bổ cơ thể của nhiều cây cùng họ với cây nhân sâm.
Một số cây trong họ này cho những vị thuốc bổ nổi tiếng và được dùng từ
lâu đời trong nhân dân ta như nhân sâm, ngũ gia bì, tam thất…
Đinh
lăng cũng có tác dụng bổ như nhiều cây họ hàng với nó. Ngày xưa vào dịp
hội hè thường tổ chức thi đấu vật, trước khi thi đấu các đô vật hay vò
lá đinh lăng với nước để uống cho tăng sức dẻo dai, vật lâu không mệt.
Bộ
phận dùng làm thuốc chủ yếu là rễ, lấy ở những cây trồng từ 3 năm trở
lên. Người ta thường đào lấy rễ cây đinh lăng vào mùa thu hay mùa đông
vì lúc này hoạt chất tập trung ở rễ và rễ mềm hơn.
Rễ
đào về đem rửa sạch đất cát, thái nhỏ rồi phơi, hay sấy khô. Cũng có
thể tẩm thêm rượu, gừng và sao cho thơm. Ngoài rễ ra, người ta còn dùng
cả thân và lá đinh lăng.
Những năm trước đây các
nhà khoa học nước ta (Viện Y học quân sự) cũng có nhiều công trình
nghiên cứu dùng đinh lăng làm thuốc tăng lực, tăng khả năng lao động cho
người có kết quả tốt. Làm thuốc bổ gây ăn ngon miệng, ngủ tốt, tăng
cân, giúp cơ thể chóng hồi phục sau khi mổ, ốm nặng.
Đinh
lăng dùng khá an toàn. Liều trung bình là 0,25-0,50g một lần, ngày uống
2-3 lần, dùng dưới dạng thuốc bột (sao thơm, tán nhỏ, rây bột mịn),
thuốc viên, hoặc rượu thuốc.
Đinh lăng và các công dụng khác
Chữa vết thương: Lá đinh lăng giã nát đắp nơi bị thương.
Phòng co giật ở trẻ: Lấy lá đinh lăng non, lá già cùng phơi khô rồi lót vào gối hay trải xuống giường cho trẻ nằm.
Bồi
bổ và khai vị (nhờ công hiệu của rễ đinh lăng tăng cường sinh lực, sức
dẻo dai và khả năng chịu đựng của cơ thể): Chọn dùng một trong các cách
như: Lấy rễ đinh lăng khô thái lát 150g, không sao tẩm, tán bột, ngâm
trong 1.000ml rượu gạo 35 – 40 độ, trong 7 – 10 ngày liền (hằng ngày lắc
đều 1 lần) ngày uống 2 lần vào trước bữa ăn 30 phút, mỗi lần uống 5 –
10ml.
Chữa đau lưng mỏi gối (chữa cả tê thấp): Dùng
thân cành đinh lăng 20 – 30g, sắc lấy nước chia 3 lần uống trong ngày.
Có thể phối hợp cả rễ cây xấu hổ, cúc tần và cam thảo dây.
Thông tia sữa tắc: Rễ đinh lăng 30 – 40g, sắc với 500ml nước còn 250ml chia 2 – 3 lần uống nóng trong ngày, uống liền 2 – 3 ngày


Thứ Hai, tháng 12 01, 2014
doanh nhan