Chủ Nhật, 3 tháng 1, 2016

Cây ớt làm thuốc

Với không ít người, ớt là loại gia vị không thể thiếu trong các bữa ăn, giúp làm tăng cảm giác ngon miệng. Nhưng có lẽ ít ai biết các bộ phận của cây ớt được dùng trị nhiều bệnh.
Với không ít người, ớt là loại gia vị không thể thiếu trong các bữa ăn, giúp làm tăng cảm giác ngon miệng. Nhưng có lẽ ít ai biết các bộ phận của cây ớt được dùng trị nhiều bệnh.
Ớt còn có tên phiên tiêu, thái phiên, lạp tiêu, hải tiêu... Theo Đông y, quả ớt vị cay, tính nóng; vào tâm, tỳ. Lá ớt vị ngọt đắng, tính mát; có tác dụng thanh nhiệt giải độc, sát khuẩn lợi niệu, nấu canh có vị ngon. Rễ ớt có tác dụng hoạt huyết, tán thũng, theo kinh nghiệm dân gian có tác dụng trị phong thấp. Quả ớt có tác dụng ôn trung tán hàn, khai vị tiêu thực, trừ thấp. Dùng làm gia vị, khai vị trợ tiêu hóa trong các trường hợp ăn kém chậm tiêu, đau bụng do tỳ vị hư hàn, kiết lỵ tiêu chảy, phong thấp đau nhức gân xương, sốt rét, sởi đậu ban chẩn. Xin giới thiệu một số cách dùng ớt chữa bệnh.
Các dạng mụn nhọt, đinh độc.
Chữa đau bụng kinh niên: rễ ớt 10g, rễ chanh 10g, rễ xuyên tiêu 10g. Các vị sao vàng. Sắc uống trong ngày.
Chữa rắn rết cắn và côn trùng đốt: dùng lá tươi (liều lượng vừa đủ) giã nát, đắp vào vết cắn. Sau 15-30 phút, nếu còn đau nhức, đắp thêm lần nữa.
Chữa eczema: lá ớt tươi 30g, me chua 20g. Giã nát đắp vào chỗ đau. Làm liên tục 3-5 ngày.
Chữa mụn nhọt, đinh độc: lá ớt, lá na, lá tử vi, lá bồ công anh, lá táo; mỗi thứ 10-20g. Giã nát nhuyễn, thêm ít muối, đắp vào chỗ đau
Món ăn thuốc có ớt:
Cháo ớt: ớt  xanh 20-60g, gạo tẻ 60g. Gạo nấu với ớt thành cháo, cho ăn nóng. Dùng cho người cảm cúm sốt nóng, rét run.
Nước đường gừng ớt: ớt đỏ chín tươi 10-15g, gừng tươi 12-15g, đường đỏ lượng thích hợp, nấu hãm nước cho uống. Dùng cho người ăn kém chậm tiêu, đau bụng do lạnh.
Thịt lợn xào mướp đắng ớt xanh: thịt lợn ba chỉ 80-100g, ớt xanh 60g, mướp đắng 60g. Thịt thái lát, ớt thái lát, mướp đắng bỏ hột thái lát, thêm gia vị, chút đường đỏ xào to lửa ăn nóng. Dùng cho người bị sốt nóng, đau đầu chóng mặt, buồn nôn khi trời nắng nóng, làm việc ở nơi có nhiệt độ cao, vã mồ hôi, khát nước.
Thịt bò xào cần tây ớt đỏ: thịt bò nạc 300- 400g, cần tây 120g, ớt đỏ 10-20g, gừng tươi 5g, trứng gà 1 quả. Thịt thái ngang thớ, cần cắt ngắn, ớt thái lát, gừng thái mảnh. Xào thịt, cần tây, ớt đỏ đến chín, thêm gừng, trứng và gia vị vào, đảo đều. Món này tốt cho người bị ù tai, đau đầu chóng mặt, tăng huyết áp, xơ vữa động mạch.
Thịt dê hầm rễ ớt: thịt dê 100-150g, rễ ớt 60g. Thịt dê thái lát, rễ ớt rửa sạch chặt khúc; trộn đều, hầm chín, thêm muối, gia vị, chia ngày 1-2 lần. Dùng tốt cho người bị phong thấp đau sưng khớp.
Canh cá lá ớt: cá trê hoặc cá chép 200-400g, lá ớt 1 bó. Cá làm sạch đem nấu canh với lá ớt, thêm gia vị thích hợp, ăn. Dùng cho người bị mụn nhọt, viêm đường tiết niệu, phù nề.
Kiêng kỵ: Người đang đau mắt, âm hư hỏa vượng, mụn nhọt sưng tấy mưng mủ nên hạn chế.


NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ
NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ
Gọi cho chúng tôi 0902233317


Câu đằng trị tăng huyết áp

Câu đằng (Uncaria spp) tên khác là dây móc câu, dây dang quéo, móc ớ, vuốt, co nam kho (Thái), pước cậu, nam lập câu (Tày), ghím tỉu (Dao).
Câu đằng (Uncaria spp) tên khác là dây móc câu, dây dang quéo, móc ớ, vuốt, co nam kho (Thái), pước cậu, nam lập câu (Tày), ghím tỉu (Dao).
Bộ phận dùng làm thuốc của cây câu đằng là đoạn thân (mấu cành) có gai ở kẽ lá, cong và cứng như lưỡi câu, thu hái vào mùa hè thu, phơi hoặc sấy khô. Đoạn thân bánh tẻ tốt hơn đoạn già, thường không dài quá 3cm. Gai dài chừng 2 cm. Loại 2 gai có tác dụng tốt hơn loại 1 gai. Không dùng đoạn thân không có gai. Thành phần hóa học của móc câu đằng là alcaloid, tanin, saponosid, coumarin và flavonoid. Dược liệu câu đằng có vị ngọt, chát, tính mát, không độc, có tác dụng thanh nhiệt, trấn kinh, tản phong, bình can, thường được dùng phối hợp với các vị thuốc khác trong những trường hợp sau:
Chữa tăng huyết áp, nhức đầu, hoa mắt, chóng mặt:
- Câu đằng 10g, xuyên khung 5g, quế chi 3g, cam thảo 2g. Tất cả thái nhỏ, sắc với 400ml nước còn 100 ml uống làm 2 lần trong ngày.
- Câu đằng 10g, lá dâu 8g, cúc hoa vàng 8g, hạ khô thảo 8g, thảo quyết minh 8g, sao vàng. Sắc uống.
- Câu đằng, phòng phong, phục thần, cúc hoa vàng, đảng sâm, phục linh, trần bì, mạch môn, mỗi thứ 15g; thạch cao 30g; cam thảo 7,5g. Tất cả tán nhỏ, rây bột mịn. Ngày dùng 2 lần, mỗi lần 12g dưới dạng nước sắc.
- Câu đằng, thạch quyết minh, ích mẫu, mỗi thứ 12g; hạ khô thảo 10g; đỗ trọng 9g; hoàng cầm 6g. Sắc uống trong ngày.
- Câu đằng 12g, kỷ tử, thạch hộc, sa sâm, hạ khô thảo, mạch môn, mẫu lệ, mỗi thứ 8g; trạch tả, địa cốt bì, cúc hoa, táo nhân, mỗi thứ 6g. Sắc uống.
Chữa sốt cao, chân tay co giật, nghiến răng:
- Câu đằng 10g, kim ngân hoa 9g, cúc hoa vàng 6g, địa long 6g, bạc hà 3. Tất cả sắc với 200ml nước còn 50 ml, uống làm 1 lần trong ngày.
- Câu đằng 10g, thiên ma 10g, bọ cạp 4g, cam thảo 3g, mộc hương 2g, sừng tê giác 2g. Sắc uống.
- Câu đằng 12g, răng lợn 12g, đốt cháy; bọ cạp 12g, bỏ đầu, rút ruột, tẩm rượu, sao giòn; kinh giới 40g; thuyền thoái 8g; phèn phi 8g. Tất cả phơi khô, sấy giòn, tán nhỏ, rây bột mịn, luyện với hồ làm viên bằng hạt đỗ xanh. Trẻ em 5-6 tháng tuổi, mỗi lần uống 2 viên; một năm tuổi, mỗi lần 3 viên; 2 năm tuổi mỗi lần 5 viên. Nghiền thuốc với trúc lịch (cây tre non ép lấy nước). Ngày uống 2-3 lần.
- Câu đằng 12g, kim ngân hoa 12g, địa long 10g, liên kiều 10g, bọ cạp 3g. Sắc uống hoặc tán bột uống.
- Câu đằng 10g, cúc hoa vàng 9g, lá dâu tằm 9g, hoàng cầm 9g, tằm vôi 5g. Sắc uống ngày một thang.
Chữa trúng phong, liệt thần kinh mặt:
- Câu đằng 15g, bạch thược 12g, địa long 12g, trân châu 9g, đại hoàng 9g, trúc lịch 25ml. Sắc uống.
- Câu đằng 12g, dây hà thủ ô tươi 24g. Sắc uống trong ngày.
Chú ý: Khi sắc thuốc gần được, mới cho câu đằng vào để cho sôi 1-2 phút, trào là được.


NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ
NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ
Gọi cho chúng tôi 0902233317



Thuốc từ con nhện

Nhện (nhện nhà) là loài ăn côn trùng không cánh, phân bố ở khắp nơi trong cả nước.
Nhện (nhện nhà) là loài ăn côn trùng không cánh, phân bố ở khắp nơi trong cả nước.
Trong y học cổ truyền, toàn thân nhện được dùng với tên thuốc là bích tiền hay tri thù (không dùng nhện hoang ở rừng núi, vách đá). Bao trứng nhện hay tổ nhện là bích tiền mạc, xác nhện (tri thù xác), màng tơ nhện hay mạng nhện (tri thù ty hay tri thù võng) cũng được dùng làm thuốc.Dược liệu có vị mặn, nhạt hơi đắng, tính mát có tác dụng chống viêm, giảm đau nhức, trừ phong nhiệt, tiêu thũng, chỉ huyết, lợi tiểu, giải độc.
Theo kinh nghiệm dân gian, nhện được dùng trong những trường hợp sau:
Chữa đinh râu, mụn nhọt chóng mưng, vỡ mủ và mau khỏi: nhện 1 con để sống, ngắt bỏ chân, nghiền nát với ít giấm, dùng riêng hoặc phối hợp với 1 củ hành tươi, giã nát, đắp băng. Ngày một lần. Có thể chỉ lấy nhện sống ấn vào mụn nhọt cũng được.
Chữa hôi nách: nhện 1-2 con, bọc bằng đất nhão, đem nung đỏ khoảng nửa giờ. Để nguội, đập đất, lấy nhện, tán nhỏ, trộn thật đều với khinh phấn 5g, đã tán mịn, rồi xát vào nách sau khi đã vệ sinh sạch sẽ và lau khô. Ngày làm 2 lần.
Chữa đái dầm, mồ hôi trộm, cam tích, chậm biết đi ở trẻ nhỏ, mụn nhọt: nhện 1-2 con (được nhện đang ôm trứng càng tốt) hoặc bao trứng nhện 1-2 cái (còn nguyên trứng hoặc đã nở con) sao hoặc nướng vàng, tán bột, uống làm hai lần trong ngày.
Chữa đầy hơi, trướng bụng ở trẻ em: Nhện to 1 con hoặc xác nhện 2-3 cái nướng vàng, dùng riêng hoặc phối hợp với tổ tò vò một nắm nhỏ, sắc với 400ml nước còn 100ml uống làm 2 lần trong ngày.
Chữa sâu răng: xác nhện đem sấy khô hoặc nướng vàng, tán nhỏ, xát vào chỗ sưng đau.



NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ
NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ
Gọi cho chúng tôi 0902233317


Ốc sên hoa giải độc, tiêu viêm

Ốc sên hoa (Achatina fulica) là loài ốc lớn nhất trong họ ốc sên, sống ở trên cạn, nơi ẩm thấp, phổ biến trong các hốc cây, lùm bụi, nhất là ở hàng rào cây xương rồng ba cạnh.
Ốc sên hoa (Achatina fulica) là loài ốc lớn nhất trong họ ốc sên, sống ở trên cạn, nơi ẩm thấp, phổ biến trong các hốc cây, lùm bụi, nhất là ở hàng rào cây xương rồng ba cạnh. Đó là một động vật thân mềm (nhuyễn thể) có vỏ to, tháp có 5-6 vòng xoắn, vòng miệng phồng to và rộng.
Ốc sên hoa được dùng với tên thuốc là oa ngưu, có vị mặn, tính hàn, tươi nhầy, có tác dụng bổ dưỡng, giải độc, tiêu viêm, giảm đau, chống co thắt, lợi tiểu. Ốc sên hoa 1-2 con, lấy thịt giã nát thêm ít nước, phết lên giấy để chừa một lỗ nhỏ ở giữa, đắp chữa mụn lở mọc ở da mặt (Nam dược thần hiệu). Thịt ốc sên hoa và cùi quả ô mai lượng bằng nhau, giã nát, làm viên ngậm chữa cổ họng sưng đau, không nuốt được. Dịch ốc sên hoa đã thủy phân, đem cô đến khi đặc thành sản phẩm mang tên “đạm ốc sên” được dùng làm thuốc bổ dưỡng rất tốt.
Để chữa hen suyễn, thấp khớp, lấy ốc sên hoa 2 con làm thịt, nướng vàng, thái nhỏ, nấu lấy nước đặc. Măng tre 50g, rửa sạch, giã nát, ép lấy nước cốt. Trộn hai nước lại, uống làm 1-2 lần trong ngày. Dùng trong thời gian dài.
Nhớt ốc sên hoa là lớp chất nhầy bao bọc toàn thân ốc trong vỏ cũng được dùng làm thuốc theo kinh nghiệm dân gian. Người ta lấy nhớt bằng cách bắt ốc sên hoa dùng khăn lau sạch đất dính ở miệng ốc, rồi dùng một que nhọn kích thích liên tục vào da thịt ốc, chất nhớt sẽ tiết ra rất nhiều. Lấy bông sạch quét nhớt mà dùng ngay, không để nhớt lưu cữu qua ngày. Nhớt ốc sên hoa được dùng bôi chữa rết cắn rất hay. Sở dĩ có tác dụng như vậy vì nhớt là một chất nhầy có phản ứng kiềm. Khi bôi lên vết rết cắn, chất nhày làm trung hòa tính acid của nọc rết, gây cảm giác mát dễ chịu, hết đau nhức.
Theo tài liệu nước ngoài, ở Pháp, người ta đã nuôi ốc sên hoa trên quy mô công nghiệp và chế biến thịt ốc thành một món ăn-vị thuốc được nhiều người ưa thích. Ở Trung Quốc, thịt ốc sên hoa phơi khô, mỗi lần dùng 15g, sao cháy, sắc nước uống ngày 3 lần liền trong 3-5 ngày, chữa kiết lỵ, tiêu chảy. Để chữa tràng nhạc, lấy thịt ốc sên hoa tươi 60g hoặc phơi khô 30g, thái nhỏ, nấu chín với thịt lợn nạc 100g, thêm gia vị ăn trong ngày.


NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ
NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ
Gọi cho chúng tôi 0902233317



Nấm linh chi hầm gà bổ tâm khí

Những năm gần đây, linh chi được nhiều người ưa chuộng do tác dụng chữa bệnh của nó. Linh chi được dùng làm thuốc dưới nhiều dạng thuốc sắc, trà thuốc, món ăn...
Những năm gần đây, linh chi được nhiều người ưa chuộng do tác dụng chữa bệnh của nó. Linh chi được dùng làm thuốc dưới nhiều dạng thuốc sắc, trà thuốc, món ăn... Trên số báo thứ 3 (194 năm 2010), chúng tôi đã giới thiệu các bài thuốc từ linh chi, số báo này sẽ giới thiệu tiếp một số món ăn có tác dụng chữa bệnh từ linh chi để bạn đọc tham khảo áp dụng.
Bổ tâm khí, an tâm thần, chống lão hoá lú lẫn: Thịt gà 100g, đảng sâm 15g, linh chi 15g, hạt sen 20g, nhãn nhục 24g. Thịt gà làm sạch, chặt thành miếng, linh chi, đảng sâm, nhãn nhục, hạt sen rửa sạch. Bỏ chung tất cả vật liệu vào trong nồi, thêm nước vừa đủ, nấu lửa mạnh cho sôi, rồi giảm lửa thành riu riu nấu tiếp trong hai giờ đồng hồ nữa thì thêm gia vị cho vừa ăn. Lượng ăn tùy sức. Tuổi già bị lú lẫn do tâm khí bất túc biểu hiện qua thần khí đờ đẫn, phản ứng chậm hụt, hay quên, tinh thần suy yếu, mất sức.
Suy nhược sau đẻ, nuôi con ít sữa, người già yếu, ốm dậy cần hồi phục:
Bài 1: Gà choai (gà giò), có gà ác (đen) càng tốt. Làm sạch, mổ moi rồi cho 15g linh chi nghiền nhỏ vào bụng gà rồi chưng cách thuỷ. Gà chín nêm gia vị, ăn cái uống nước.
Bài 2: Linh chi thái nhỏ 15g, gà trống tơ 1 con làm sạch (bỏ ruột) gừng và hành tươi số lượng vừa phải cùng gia vị. Lấy gà và 1/2 số linh chi, gừng hành gia vị cho nước vào hầm chín rồi vớt gà cho vào nồi nước dùng đã chuẩn bị sẵn hầm tiếp 15 phút.
Nước dùng đậm đặc thứ hai là được chuẩn bị sẵn với đường phèn, muối, gia vị, bột ngọt với phần 1/2 linh chi còn lại đã được nấu hấp mềm cùng đem đổ nước đều lên gà trên một chảo khác có dầu vừng đun vừa lửa cho đến khi da gà đỏ tươi vàng là được. Đem chia làm 2 bữa ăn trong ngày.


NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ
NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ
Gọi cho chúng tôi 0902233317



Hoa hòe - Vị thuốc quý trị tăng huyết áp

Theo YHCT, hoa hòe có vị đắng nhẹ. Tính hơi hàn. Quy kinh can, đại tràng, có công năng lương huyết, chỉ huyết, dùng trong các trường hợp huyết nhiệt, gây xuất huyết, như chảy máu cam, lỵ, trĩ ra máu, đại tiểu tiện ra máu. Phụ nữ băng kinh, băng huyết...
Đông y gọi hoa hòe là hòe mễ, mễ là hạt gạo, ý nói vị thuốc từ hoa hòe, có kích thước chỉ bằng hạt gạo, nghĩa là còn ở dạng nụ hoa, mới được dùng làm thuốc. Do vậy, ta phải thu hái hoa hòe,  ngay từ khi nó còn là nụ hoa, là như vậy.
Sau khi thu hái hoa hòe, người ta tuốt lấy nụ hoa, nhặt bỏ các cành con và lá còn sót lại, rồi đem sao. Do hoa hòe có giá trị, nên một số người đã làm giả mạo nụ hòe bằng cách, lấy những cành hòe nhỏ, có kích thước gần bằng nụ hoa, đem thái nhỏ, rồi trộn lẫn vào vị thuốc. Do đó đã làm giảm giá trị chữa bệnh của hoa hòe.
Theo YHCT, hoa hòe có vị đắng nhẹ. Tính hơi hàn. Quy kinh can, đại tràng, có công năng lương huyết, chỉ huyết, dùng trong các trường hợp huyết nhiệt, gây xuất huyết, như chảy máu cam, lỵ, trĩ ra máu, đại tiểu tiện ra máu. Phụ nữ băng kinh, băng huyết. Trên thực tế, hoa hòe có thể sử dụng dưới nhiều hình thưc khác nhau.
Hoa hòe được dùng làm thuốc trong các trường hợp:
- Cầm máu, ngăn ngừa sự xơ vữa các động mạch… phòng và trị chứng tăng huyết áp, hoặc niêm mạc miệng, lưỡi bị lở loét: có thể dùng hoa hòe sao vàng, hãm uống. Ngày 4 - 6g.
- Với trường hợp hay bị xuất huyết, chảy máu cam, xuất huyết dưới da, dùng hoa hòe sao đen (đem hoa hòe sao nhỏ lửa tới khi toàn bộ bên ngoài hoa có mầu đen, bên trong vẫn còn mầu vàng), hãm với nước sôi, uống ấm, ngày nhiều lần. Có thể phối hợp với một số vị thuốc cầm máu khác, như trắc bách diệp, lá sen, cỏ nhọ nồi,  huyết dụ, địa du, mỗi vị 6g (đều sao cháy), sắc uống, ngày một thang. Uống liền một vài tuần lễ.
Trong Đông y, thường dùng bài cổ phương hòe hoa tán gồm: hòe hoa 12g, trắc bách diệp 12g, kinh giới tuệ 12g, chỉ xác 12g. Phương thuốc này, cho hiệu quả tốt,  đối với các trường hợp xuất huyết: Trĩ huyết, đại tiểu tiện ra huyết, chảy máu cam…, hoặc vừa có ứ huyết vừa xuất huyết: Chấn thương, sưng đau, và chảy máu. Dùng dưới dạng thuốc bột, ngày uống 2-3 lần, mỗi lần 6-8 g với nước ấm.
Hoa hòe còn được dùng để làm thuốc xông hơi và ngâm rửa khi bị trĩ gây đau đớn: hoa hòe, chỉ xác, mỗi vị 20g, ngải cứu 40g, phèn chua 20g, cho vào nồi, thêm nước sạch, bịt kín nồi bằng lá chuối tươi, đun sôi 10 phút. Chọc một lỗ nhỏ, xông nhẹ vào nơi bị trĩ. Sau đó để nước ấm, rồi ngâm, rửa các búi trĩ, sẽ giảm được đau đớn và nhanh khỏi.
Ngoài hoa hòe ra, người ta còn dùng một số bộ phận khác của cây hòe, cũng dùng làm thuốc như quả hòe, còn gọi là hòe giác, có vị đắng, tính hàn. Quy kinh  can, đại tràng; có công năng thanh can đởm, trừ phong, lương huyết, dùng sắc uống trong các trường hợp tỳ vị nhiệt, chảy nhiều dãi, trị mụn nhọt, phụ nữ bị nhọt vú, hoặc trị tăng huyết áp, trị di, mộng tinh. Hoặc lá hòe, dùng lá tươi, sắc đặc tắm khi bị ngứa, lở, dị ứng. Hoặc đem lá hòe, đồ chín, phơi khô, sắc uống hàng ngày, trị mắt bị mờ.



NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ
NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ
Gọi cho chúng tôi 0902233317


Món ăn thuốc từ con nhum biển

Nhum biển còn gọi cầu gai,... được ví như “nhân sâm của biển”. Nhum biển loại nhuyễn thể họ hàng với trai, hào, sống thành bầy, tên khoa học Echinoidea. Nhum biển không chỉ được chế biến thành nhiều món ăn ngon, bổ mà còn được coi là bài thuốc tăng cường sức khỏe. Thịt nhum biển có chất đạm, chất béo, acid béo omega-3, carbohydrates, sodium.
Theo Đông y, thịt nhum biển có vị mặn, tính ấm, tác dụng bổ thận ích tinh, dưỡng khí huyết, ích tỳ thận... dùng trị chứng hư nhược, tinh huyết hao tổn, tỳ thận hư, ăn kém sinh lý yếu và các chứng liên quan khí huyết hư. Sau đây là một số món ăn thuốc từ nhum biển:
Cháo nhum biển: nhum biển, gạo tẻ, hành hoa, tiêu muối, dầu ăn, bột ngọt, gia vị vừa đủ nấu ăn. Dùng dao tách đôi con nhum lấy thịt ướp với gia vị, cho hành mỡ xào chín thơm để riêng, khi cháo chín nhừ cho thịt và trứng vào cháo ăn kèm giá đậu, hành ngò. Bài này rất thích hợp cho người mệt mỏi mới ốm dậy.
Nhum biển giàu dinh dưỡng và là món ăn ngon, bổ giúp tăng cường sức khỏe.
Nhum biển nướng mỡ hành: nhum biển sau khi rửa sạch, dùng kéo cắt đôi, cho vào một ít mỡ hành và nướng trên bếp than hồng chín thơm, thêm gia vị, muối tiêu, chanh. Bài này thích hợp với người ăn kém hay lạnh bụng, tiêu chảy.
Nhum biển chưng trứng: nhum biển, trứng gà, vịt hoặc trứng cút, hành tiêu, muối, gia vị. Nhum biển sau khi làm sạch, tách phần thịt, trứng ra khỏi nhum, rồi đánh đều với trứng gia vị, sau cho các vị vào thố, hấp cách thủy cho chín. Bài này thích hợp với người ăn kém, khó lên cân, tóc bạc sớm, da khô sinh lý yếu.
Mắm nhum biển: dùng dao bổ đôi con nhum, tách bỏ gân máu, nạo lấy thịt, cho vào bát đã có ít muối hạt cho vào chai, cất vào chỗ mát, 7 ngày sau là có thể ăn được. Trộn mắm nhum với lòng đỏ trứng gà, rắc một ít hành lá và ớt, phi thơm ít hành, bắc lên bếp, nghe “xèo” là có món chả nhum hấp dẫn. Món này thích hợp với trẻ em còi, người lớn gầy khó lên cân.
Cháo nhum biển hạt sen: thịt nhum, gạo mới, đậu xanh, hạt sen, giá đậu, rau răm rau mùi, gia vị vừa đủ nấu cháo. Bài này thích hợp người hư nhược, ăn ngủ kém, nam nữ sinh lý yếu, hiếm muộn con.
Thịt nhum xào rau củ: thịt nhum, dưa leo, hành tây, cà rốt, hành ngò, gia vị. Nhum biển sống lấy kéo cắt đôi, lấy phần thịt xào rau ăn. Món này thích hợp với người khí huyết hư, ăn uống kém, hay mệt mỏi, mắt yếu, da khô.
Mắm nhum ăn bún rau sống: thịt ba chỉ luộc thái nhỏ, bún tươi, rau tía tô, húng quế, rau ngò, giá đậu, đậu phụng rang, thêm chanh, tỏi, đường, gia vị. Bún tươi trộn thịt, mắm nhum các vị khác, nêm gia vị vừa ăn. Bài này thích hợp với người tỳ thận yếu bụng đầy chậm tiêu, hay cảm nhiễm, tinh huyết kém.
Lưu ý: Nhum biển loại bổ dưỡng giàu đạm nên người đang bị đau khớp do gút nên kiêng; người đang cần giảm cân, phụ nữ có thai người nóng thai lớn, người hay bị dị ứng hải sản nên hạn chế.



NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ
NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ
Gọi cho chúng tôi 0902233317


 
Design by Free WordPress Themes | Bloggerized by Lasantha - Premium Blogger Themes | Laundry Detergent Coupons