Thứ Hai, 27 tháng 10, 2014

Ba ba - Bổ thận, cường kiện gân cốt

Ba ba có rất nhiều ở ao, hồ, sông đầm nước ta và hiện nay được nuôi nhiều trong các hộ gia đình để cung cấp thực phẩm cho thị trường. Thịt ba ba là món ăn ngon, bổ dưỡng với mọi lứa tuổi, rất phù hợp trong những ngày hè nóng nực. Mai ba ba (còn gọi miết giáp) là vị thuốc quý trong y học cổ truyền.



 
Ba ba giàu protein, lipid, glucid, các muối vô cơ, các acid amin, iod, vitamin A và D. Theo Đông y, mai ba ba vị mặn, tính bình; vào kinh can và tỳ. Thịt ba ba vị ngọt, tính bình; vào can, thận. Mai ba ba (miết giáp) có tác dụng tư âm, lui cơn sốt âm ỉ, làm mềm chỗ rắn, làm tan hòn cục. Thịt ba ba có tác dụng tư âm dưỡng huyết, lương huyết thanh nhiệt, bổ thận cường kiện gân cốt. Dùng cho các trường hợp sốt nóng, đau nhức xương khớp do phong thấp, sốt nóng do bệnh lý hệ thống miễn dịch, hội chứng lỵ mạn tính, huyết khối, huyết trắng, các dạng u bướu sưng nề (trưng hà tích tụ). Liều dùng, cách dùng: 12 - 20g mai ba ba kết hợp với các vị thuốc khác; 1 - 2 con (khoảng 200 - 500g).
Một số cách dùng mai ba ba (miết giáp) chữa bệnh:
Tư âm, lui cơn sốt âm ỉ: (trị chứng âm hư phát sốt, nóng âm ỉ trong xương):
Thuốc bột tần giao, mai ba ba: tần giao 20g, tri mẫu 20g, đương quy 20g, miết giáp 63g, địa cốt bì 63g, sài hồ 63g. Tất cả nghiền bột, lấy 20g bột sắc với ô mai 1 quả, thanh cao 12g, uống trước khi đi ngủ. Trị sốt về chiều, nóng hâm hấp trong xương.
Bột thanh cao: thanh cao 12g, miết giáp 12g, sài hồ 8g, hoàng liên 4g, hoàng kỳ 12g, tang bạch bì 12g, bạch truật 12g, chi tử phấn 12g, tri mẫu 12g, địa cốt bì 12g, cam thảo 8g, long đởm thảo 8g. Sắc uống ngày 1 thang. Trị đau xương, sốt nhẹ, ngày nhẹ đêm nặng. 
Nhuyễn kiên, tán kết (làm mềm chỗ rắn, tan hòn cục):
Miết giáp ẩm: miết giáp 12g, bạch truật 12g, hoàng kỳ 12g, thảo quả 12g, binh lang 12g, xuyên khung 12g, quất hồng 12g, bạch thược 12g, sinh khương 4 lát, đại táo 3 quả, ô mai 6g. Sắc uống ngày 1 thang. Trị sốt rét, gan lách sưng to.
Miết giáp 30g, vảy tê tê 5g sắc với 400ml nước còn 100ml, chia uống trong ngày. Chữa xơ gan.
Các món ăn - bài thuốc có ba ba:
Ba ba hầm long nhãn sơn dược: ba ba 1 con, long nhãn 20g, sơn dược 20g. Ba ba làm sạch, cho dược liệu và gia vị; hầm cách thủy ăn. Dùng cho trường hợp suy nhược cơ thể sau bệnh nặng dài ngày, hồi hộp đánh trống ngực, mất ngủ, vã mồ hôi trộm; lòng bàn tay, gan bàn chân hâm hấp nóng (đạo hãn, thủ túc tâm nhiệt) ăn kém mất sức.
Ba ba hầm bối mẫu: ba ba 1 con, bối mẫu 5g; nước luộc gà hoặc nước phở lẩu vớt bỏ váng mỡ 100ml. Ba ba bỏ mai, bỏ ruột, làm sạch, cho bối mẫu, nước phở, muối mắm, dấm, gừng, hành, gia vị, hầm nhỏ lửa khoảng 1 giờ. Dùng cho các trường hợp âm hư đạo hãn, ho suyễn, sốt nóng hâm hấp.
Ba ba hầm thạch quyết minh: ba ba 1 con (500g), thạch quyết minh 20g, cốc tinh thảo 15g, sinh địa hoàng 12g. Ba ba làm sạch; các dược liệu gói trong vải xô, cho vào nồi, thêm nước hầm chín, bỏ bã thuốc, thêm gia vị phù hợp. Ăn ngày 1 lần, liên tục 5 - 7 ngày. Dùng cho các trường hợp đục nhân mắt, tăng nhãn áp (thiên đầu thống).
Ba ba hầm sơn thù du, hà thủ ô: ba ba 1 con, sơn thù du 15g, hà thủ ô 15g. Ba ba làm sạch thái lát, các dược liệu sắc lấy nước bỏ bã, cho gia vị; tất cả hầm chín nhừ. Dùng cho trường hợp di tinh di niệu, rong kinh đái hạ.
Kiêng kỵ: Người dương hư không nhiệt, dạ dày yếu hay nôn, tỳ hư đại tiện lỏng không được dùng.         
 
  BS. Tiểu Lan

Nước ép dưa chuột: đẹp da, chữa nhiều bệnh

Dưa chuột là một trong những loại quả được dùng phổ biến ở nước ta để làm thức ăn và làm thuốc. Trong dân gian cũng lưu truyền khá nhiều các bài thuốc sử dụng dưa chuột để chữa bệnh và giải khát. Vào những ngày hè nóng nực, việc lựa chọn và chế biến nước giải khát từ dưa chuột là hết sức hữu ích. Bài viết này xin được giới thiệu một số công thức điển hình để độc giả tham khảo.
Dưa chuột 500g rửa sạch, thái miếng, ép lấy nước, hòa với 20ml mật ong, uống trong ngày. Dùng đặc biệt tốt cho trẻ em bị mụn nhọt, rôm sẩy, mẩn ngứa, phát sốt trong mùa hè.
Dưa chuột 500g, dưa hấu 500g, hai thứ gọt bỏ vỏ và hạt, ép lấy nước, hòa với 20ml mật ong, chia uống vài lần trong ngày. Dùng làm nước giải khát, chữa phù thũng và làm đẹp da.
Nước ép dưa chuột: đẹp da, chữa nhiều bệnh 1Nước ép từ dưa chuột rất giàu vitamin, giảm mệt mỏi, làm đẹp da.

Dưa chuột 500g, bí đao 500g, hai thứ gọt bỏ vỏ và hạt, rửa sạch, thái miếng rồi ép lấy nước, pha thêm một chút muối, dùng làm nước giải khát trong ngày. Đồ uống này đặc biệt tốt với những người thừa cân và béo phì.
Vỏ dưa chuột 100g, vỏ bí đao 100g, hai thứ rửa sạch, sắc với 500ml nước trong 30 phút rồi bỏ bã lấy nước, pha thêm một chút muối, uống trong ngày. Dùng đặc biệt tốt cho những người hay bị phù thũng.
Dưa chuột 300g, bình quả (loại táo to nhập khẩu từ nước ngoài) 200g, chanh 100g. Dưa chuột và táo gọt bỏ vỏ, chanh để nguyên vỏ, bỏ hạt, tất cả thái lát đem ép lấy nước, pha thêm một chút muối, uống trong ngày. Dùng để làm nước giải khát, đặc biệt với những người bị tăng huyết áp, mắc bệnh thận.
Dưa chuột, táo, cà rốt và bưởi múi mỗi thứ 500g, mật ong và nước đun sôi để nguội vừa đủ. Dưa chuột và táo gọt bỏ vỏ, cà rốt rửa sạch thái miếng, bưởi bỏ vỏ và hạt, tất cả đem ép lấy nước, cho thêm nước đun sôi để nguội và mật ong lượng vừa đủ, uống trong ngày. Đồ uống này rất giàu vitamin, vừa giải khát vừa làm đẹp da.
Dưa chuột và bưởi múi mỗi thứ 80g, cà chua 100g, nước cốt chanh 20ml. Dưa chuột và bưởi bỏ vỏ và hạt, cà chua thái miếng, tất cả đem ép lấy nước, hòa với nước cốt chanh, uống trong ngày. Có công dụng giải khát, làm đẹp da và đen râu tóc.
Dưa chuột 300g, củ cải 100g, mật ong 15ml. Dưa chuột và củ cải rửa sạch, thái miếng, ép lấy nước, hòa thêm mật ong, uống trong ngày. Có công dụng giải khát, đặc biệt tốt với những người bị viêm đường tiết niệu, sỏi thận, sỏi niệu quản và sỏi bàng quang.
Dưa chuột 250g, nho tươi 200g, chuối tiêu 150g, nước cốt chanh tươi 15ml. Dưa chuột rửa sạch thái miếng, nho rửa sạch, chuối tiêu bỏ vỏ thái miếng, tất cả đem ép lấy nước, uống trong ngày. Dùng làm nước giải khát, đặc biệt tốt với những người bị bệnh thận, thiếu máu, mệt mỏi, chán ăn.
Nghiên cứu hiện đại cho thấy, trong 100g dưa chuột tươi có chứa 96g nước; 0,6g protein; 0,1g mỡ; 22g đường; 12mg Ca; 0,3mg Fe; 15mg Mg; 24mg P; 45 đơn vị quốc tế vitamin A; 0,03mg vitamin B1; 0,02mg vitamin B2; 0,3mg niacin, 12mg vitamin C. Vì dưa chuột tính lạnh nên những người tỳ vị hư hàn, hay bị rối loạn tiêu hóa, đi lỏng không nên dùng.
ThS. Hoàng Khánh Toàn

Củ ấu thanh nhiệt, chữa bệnh mùa hè

Mùa hè trời nắng gắt, oi nồng thường gây một số bệnh: say nắng say nóng, cảm sốt, cơ thể bị mất nước, mệt mỏi, trẻ nhỏ bị rôm sảy, mụn nhọt... Vì vậy, nên lựa chọn những loại thức ăn có công dụng thanh nhiệt, giải độc và bổ dưỡng âm khí để giúp cơ thể thêm khỏe mạnh. Xin giới thiệu cách dùng củ ấu - một loại thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao lại giúp giải khát, chống nắng nóng, chống suy nhược rất tốt.

Củ ấu giàu dinh dưỡng lại thanh nhiệt, trị cảm sốt, say nắng nóng.
 
Theo Đông y, củ ấu vị ngọt, tính mát; vào tỳ, vị. Có tác dụng ích khí kiện tỳ (ăn chín); thanh thử giải nhiệt lương huyết, trừ phiền chỉ khát (ăn sống). Dịch chiết bằng rượu của củ ấu non ăn sống có tác dụng phòng ung thư, u bướu. Củ ấu non ăn sống có tác dụng chống nóng chống nắng, giải độc say rượu, trừ rôm sảy; củ ấu già có tác dụng kiện tỳ bổ khí, dùng cho trường hợp tỳ hư tiết tả, kinh nguyệt quá nhiều, trĩ xuất huyết, chống suy nhược. Thân cây vị ngọt chát, tính bình, có tác dụng tiêu viêm giải độc. Có thể dùng 50 - 200g/ngày dưới dạng ăn sống hoặc nấu canh.
Món ăn từ củ ấu
Củ ấu ăn tươi: củ ấu tươi, liều lượng thích hợp, rửa sạch, bỏ vỏ ăn sống. Dùng cho các trường hợp say nóng, say nắng, sốt mất nước, khát nước, kích thích, bồn chồn.
Xi rô nước ép củ ấu: củ ấu 250g, nấu chín trong 1 giờ, ép lọc lấy nước, them đường, chia 2 lần uống trong ngày. Dùng cho các trường hợp huyết nhiệt, kinh nguyệt quá nhiều, trĩ xuất huyết, đau rát hậu môn.
Củ ấu luộc chín: củ ấu già 150 luộc chín, bóc bỏ vỏ ăn, mỗi ngày 2 lần. Dùng cho các trường hợp tỳ hư, tiêu chảy, mệt mỏi, mất sức.
Củ ấu bung nhừ: củ ấu (bóc bỏ vỏ) 20 - 30g, thêm nước, đun nhỏ lửa nấu thành dạng canh cháo. Cho ăn ngày 2 lần. Có tác dụng điều trị bổ trợ cho trường hợp ung thư tử cung, ung thư dạ dày ruột.
Bột hồ củ ấu củ mài: củ ấu cả vỏ 30g, bột củ mài 30g. Nấu nhừ củ ấu, ép lọc lấy nước, cho bột củ mài vào, đun chín thành hồ bột. Dùng cho trẻ em tiêu chảy mạn tính.
Cháo củ ấu: củ tươi bỏ vỏ 30g, gạo nếp 30g, đường vừa đủ. Nấu thành cháo, ăn 2 lần trong ngày. Chữa tỳ vị hư suy ở người cao tuổi, ăn uống khó tiêu, viêm ruột.
Củ ấu thanh nhiệt, chữa bệnh mùa hè 2Cháo củ ấu tốt cho người bị tỳ vị hư nhược, ăn không tiêu.
Củ ấu dùng làm thuốc
Chữa tỳ vị hư suy ở người cao tuổi: đảng sâm 10g, hoàng kỳ 10g, bột củ ấu 10g. Sắc đảng sâm và hoàng kỳ lấy nước, bỏ bã, hòa bột củ ấu, đun sôi cho uống.
Chữa lỵ, đại tiện ra máu: vỏ củ ấu 20g. Sắc uống 2 lần trong ngày.
Trị mụn nhọt, lên đinh ngón tay: vỏ củ ấu sao tồn tính, tán mịn them tinh dầu thơm bôi bên ngoài. Tác dụng thanh nhiệt thu liễm.
Trị các tổn thương trên da mặt, miệng môi ở trẻ suy dinh dưỡng (cam tẩu mã): lá cây củ ấu phơi khô tán bột, bôi đắp ngoài. Tác dụng thanh nhiệt giải độc.
Trị các mụn cơm, mụn cóc: tai, đế, cuống củ ấu giã nát đắp trên trên da. Tác dụng thanh nhiệt hóa thấp.
Kiêng kỵ: Người tỳ vị hư nhược, đại tiện tiêu lỏng không nên dùng dạng sống.
BS. TIỂU LAN

Những ai không được dùng nhân sâm?

Hiện nay, trên thị trường nhân sâm được bán rất nhiều, đủ mọi dạng như hồng sâm, bạch sâm, rượu sâm, trà sâm, các loại mỹ phẩm có sâm... Nhiều người cho rằng nhân sâm là loại thuốc bổ và mát, lại trị được bách bệnh. Đặc biệt trong những ngày hè nóng nực, nhiều phụ huynh đã mua nước sâm, trà sâm cho con uống để mong tiêu tan rôm sẩy, mụn nhọt hay bồi bổ để trẻ tăng cân.  Thực ra nếu dùng không đúng, nhân sâm sẽ gây ngộ độc làm bệnh nặng thêm, thậm chí gây chết người.
Thành phần chủ yếu của nhân sâm gồm saponin triterpenoid tetracyclic, nhóm dammaran (gọi chung là ginsenosid), có tới gần 30 saponin khác nhau.
Những ai không được dùng nhân sâm? 1
Nhân sâm được coi là đầu vị của thuốc bổ khí, có công năng bổ khí huyết, định thần, ích trí.
Theo YHCT, nhân sâm được coi là đầu vị của thuốc bổ khí và đứng đầu trong 4 vị thuốc quý của Đông y: sâm, nhung, quế, phụ. Với công năng bổ khí, ích huyết, sinh tân, định thần, ích trí. Được dùng trị chứng chân khí suy kém, cơ thể thường xuyên có cảm giác mệt mỏi, đoản hơi, đoản khí, chân tay lạnh, mạch yếu, người gầy yếu, cơ thể mới ốm dậy, kém ăn, trí nhớ suy giảm, người ở trạng thái căng thẳng thần kinh, trong người nóng, háo khát, đái tháo, tim loạn nhịp, sinh dục kém, trẻ em quá gầy yếu, chậm lớn.
Có thể chỉ dùng 1 vị sâm: nhân sâm thái mỏng, hãm với nước sôi, nhiều lần, ngày có thể dùng 4-10g. Hoặc ngâm rượu: 50g nhân sâm thái mỏng ngâm rượu 3 lần. Lần 1 ngâm với 600ml rượu 35-40 độ, ngâm 1 tháng; lần 2 ngâm 500ml trong 3 tuần; lần 3 ngâm với 400ml rượu trong 2 tuần. Sau gộp dịch chiết 3 lần. Ngày uống 20-30ml.
Do có tác dụng bổ khí, nhân sâm còn được dùng trong nhiều bài cổ phương quý:
Bài Tứ quân tử thang: nhân sâm,  bạch linh, bạch truật, mỗi vị 5g, cam thảo 3g. Ngày uống 1 thang dưới dạng sắc hoặc làm hoàn. Tác dụng bổ chân khí cho những người sức khỏe yếu hay mệt mỏi, kém ăn. Hoặc bài Bát trân thang: Kết hợp bài Tứ quân tử thang thêm các vị: xuyên khung, đương quy, bạch thược, thục địa, mỗi vị 5g. Ngày một thang dưới dạng sắc hay thuốc hoàn. Tác dụng: trị chứng cả khí và huyết đều suy, người mệt mỏi, chân tay vô lực, đoản hơi, thiếu máu, da xanh xao, gầy còm, kém ăn.
Những ai không nên dùng hoặc cần thận trọng khi dùng nhân sâm?
Nhân sâm tuy là loại thuốc bổ khí đầu vị, song không phải dùng cho mọi đối tượng được. Người bụng thường xuyên bị đầy trướng, căng tức, đau bụng, sôi bụng, phân nát, lỏng hoặc tiêu chảy không được dùng. Đặc biệt, nếu bị đau bụng, tiêu chảy, dùng nhân sâm có thể gây nguy hiểm đến tính mạng. Người bị nôn mửa, trào ngược, tăng huyết áp cũng không nên dùng. Vì sâm lúc đầu có tác dụng tăng huyết áp, sau lại hạ. Do vậy nếu ở trạng thái tăng huyết áp dễ dẫn đến tai biến mạch máu não. Phụ nữ trước ngày sinh cũng không nên dùng sâm.
Người hay mất ngủ nhưng sức khỏe yếu mà muốn dùng sâm nên dùng buổi sáng với liều lượng thấp, khoảng 2-3g/ngày. Cần lưu ý không dùng lô sâm (đầu núm rễ củ sâm), vì có tác dụng gây nôn. Không dùng kèm với vị lê lô và ngũ linh chi.
Trẻ em cơ thể yếu, kém ăn, chậm phát triển về thể lực và tinh thần có thể dùng nhân sâm, song không nên quá lạm dụng vì sẽ làm cho trẻ bị kích dục sớm.
GS.TS. Phạm Xuân Sinh


Đậu bắp trị đái tháo đường

Gần đây, trên các trang web có nhiều bài “ca tụng” đậu bắp như một “khắc tinh” của bệnh đái tháo  đường. Có thật như vậy không?
Đậu bắp còn có tên là Mướp tây, bắp chà.
Tên khoa học là Hibiscus esculentus, họ Bông.
Quả đậu bắp có hình dạng tương tự như quả mướp nên gọi là mướp tây. Hạt trắng như hạt bắp (ngô) nên gọi là bắp chà. Cây giống đậu nhưng hạt giống bắp nên gọi là đậu bắp.
100g quả đậu bắp có 660 UI vitamin A (13% nhu cầu hàng ngày), 0,2mg vitamin B1 (10%), vitamin C 21mg (35%), canxi 81mg(l0%), folacin 88mcg (44%), magiê 57mg (16%), thiamin 0,2mg (13%), ngoài ra còn có kali và mangan.
Khi đun nóng lâu, chất nhầy làm cho nước canh đặc hơn. Nếu không thích nhầy thì chỉ đun nóng trong chốc lát.
Thanh nhiệt giải khát: lao động dưới trời nắng gắt, mồ hôi ra nhiều nên khát nước và dễ bị cảm nắng. Đậu bắp thanh nhiệt và sinh tân dịch, vì vậy, dùng đậu bắp nấu vừa ăn vừa uống nước nấu đó rất thích hợp.
Đậu bắp trị đái tháo đường 1

Táo bón: đậu bắp rất dồi dào chất xơ, cả chất xơ hòa tan và chất xơ không hòa tan. 1/2 chén đậu bắp nấu chín có thể cung cấp khoảng 2g chất xơ, đậu bắp còn tươi nguyên cung cấp nhiều hơn, 1 chén khoảng 3,2g, và chất nhầy. Chất nhầy rất tốt đối với việc làm mềm phân, chất xơ kích thích nhu động ruột... cho nên nhuận tràng. Do chứa hàm lượng nước cao, đậu bắp còn giúp cơ thể tránh khỏi tình trạng táo bón, đầy hơi. Ngoài ra, đậu bắp giúp đi cầu tự nhiên, không gây đau bụng như các thuốc trị táo bón khác, vì vậy, những người thường bị táo bón, nên dùng đậu bắp nấu lấy nước uống và ăn cả quả đậu bắp luộc.
Hỗ trợ tiêu hóa: khi vào hệ tiêu hóa đậu bắp sẽ chất nhầy và chất xơ của đậu bắp trở thành môi trường tốt cho những vi khuẩn có lợi, có thể sánh với sữa chua (yaourt), giúp tổng hợp các vitamin nhóm B.
Đậu bắp có tính nhuận trường, dùng trị hội chứng kích ứng ruột, làm lành các vết loét trong đường tiêu hóa, đồng thời làm dịu những cơn đau thắt trong ruột.
Hỗ trợ giảm thân trọng: đậu bắp sinh ít nhiệt lượng - calori (khoảng 25 calo với 1/2 chén đậu bắp nấu chín), vì vậy đậu bắp là thức ăn lý tưởng cho những người đang muốn giảm cân. Chất béo phải nhờ cholesterol nhũ hóa mới vào máu,  chất nhầy của đậu bắp khóa hoạt tính của  cholesterol nên chất béo không vào máu; cơ thể không được tiếp tế nên sử dụng mỡ tồn đọng và tiêu mỡ khiến cho thân trọng giảm. Đa số người mập phì bị táo bón, vì vậy ăn đậu bắp vừa giảm cholesterol vừa chống táo bón, đúng là món ăn - vị thuốc.
Bệnh tim mạch: chất nhầy của đậu bắp ngoại hấp cholesterol của thực phẩm và của muối mật. Nó giữ cholesterol lại trong ruột, giúp cơ thể tái hấp thu nước, hấp thu những phân tử cholesterol vượt chỉ tiêu rồi bài thải theo phân ra ngoài, do đó giảm được cholesterol huyết. Những người cholesterol huyết cao, cao huyết áp, đau thắt ngực và các bệnh tim mạch khác nên ăn đậu bắp, vừa giảm cholesterol lại thông tiểu, rất thuận lợi cho bệnh cao huyết áp.
Tuy nhiên, nên lưu ý là không ăn đậu bắp cùng lúc với uống thuốc, hãy uống thuốc trước bữa ăn 1 giờ hoặc sau 2 giờ.
Hỗ trợ thai phụ: đậu bắp chứa nhiều acid folic. 1/2 chén đậu bắp nấu chín tương đương với 36,5mg acid folic. Một chén đậu bắp sống chứa đến 87,8mg acid folic. Đây là chất dinh dưỡng cần thiết cho nhiều chức năng của cơ thể, đặc biệt đối với những phụ nữ mang thai, acid folic rất quan trọng vì giúp phòng ngừa khuyết tật ống thần kinh và các dị tật bẩm sinh khác ở thai nhi.
Gần đây, những thí nghiệm tại khoa Y học cổ truyền, Đại học Y dược TP.HCM, cho thấy cao lỏng được chế từ thân và lá cây đậu bắp có tác dụng hạ đường huyết trên chuột thí nghiệm. Với liều 10g - 40g/kg thể trọng có tác dụng hạ đường huyết trên chuột thí nghiệm. Liều có tác dụng hạ đường huyết ổn định nhất là 30g/kg thể trọng. Ở liều này, cao lỏng đậu bắp hạ đường huyết có ý nghĩa thống kê từ thời điểm 40 phút và kéo dài đến 90 phút. Sau 90 phút, đậu bắp làm hạ 47,34% nồng độ đường huyết so với nhóm đối chứng không điều trị. Qua so sánh với insulin, tác dụng của đậu bắp không mạnh bằng insulin, không gây hạ đột ngột như insulin nhưng ổn định hơn và không có nguy cơ gây tụt huyết áp xuống dưới mức bình thường…
Một số nghiên cứu cũng cho thấy chất xơ hòa tan có tác dụng tốt trong ổn định đường huyết. Chất nhầy trong đậu bắp tiết ra thông qua những mặt cắt ngang, dọc thân trái và dễ hoà tan vào môi trường nước, kể cả nước ở nhiệt độ thường. Qua nhiều giờ ngâm, chất nhầy hòa tan vào nước biểu thị rõ bằng độ sánh trong nước tăng lên. Lượng chất nhầy trong trái non cao hơn nhiều so với thân hay lá.
Chúng tôi cũng nhận thấy có người ăn nhiều đậu bắp hàng ngày hoặc dùng thân, lá hoặc quả đậu bắp phơi khô rồi phối hợp với một số thảo dược như mướp đắng, lá ổi, lá sakê… sắc uống để trị đái tháo đường. Có khi thấy có kết quả nhưng không biết là do đậu bắp hay là do các vị thuốc dùng chung. Khi theo dõi thấy có người có tác dụng ổn định đường huyết rất tốt, số khác lại không; có lẽ do cơ địa không thích hợp chăng? Chưa có nghiên cứu khoa học nào kết luận hiệu quả điều trị của những trường hợp này, nhưng có điều cần lưu ý là cần theo dõi lượng đường huyết hàng ngày và cần có sự tư vấn của các thầy thuốc chuyên môn cho từng cơ địa mỗi người để có được hiệu quả thích hợp nhất.
Ngoài quả, cành non, thân, lá và rễ của đậu bắp cũng có thể dùng làm thuốc:
Giúp tiêu hóa tốt, chữa trị loét dạ dày, bảo vệ gan: dùng cành non của đậu bắp luộc ăn.
Chữa ho, viêm họng: rễ và lá thái mỏng phơi khô ngày uống 10 - 16g dưới dạng thuốc sắc hay thuốc pha. Ngoài ra, còn dùng súc miệng.
Sốt cao, viêm đường tiểu, viêm họng: dùng lá, thân (hoặc thêm rễ) 40g, nấu lấy nước uống.
Để có được những lợi ích tốt từ đậu bắp, các nhà dinh dưỡng lưu ý:
Khi mua đậu bắp tươi, nên chọn quả không quá mềm, không có vết thâm bên ngoài vỏ, và không dài quá 8cm. Khi chế biến, nên nấu chín ở nhiệt độ thấp, vừa phải, không nấu, nướng đậu bắp ở nhiệt độ cao, tốt nhất là hấp chín.
 Lương y HOÀNG DUY TÂN

Lưu ý khi dùng sản phẩm có xạ hương

Xạ hương là một dược liệu rất quý và có giá thành rất cao, được sử dụng nhiều trong công nghệ sản xuất nước hoa, xà phòng thơm... và trong các chế phẩm thuốc Đông y. Nó có nguồn gốc từ túi xạ của những con hươu đực thuộc họ hươu xạ hoặc cầy hương.
Xạ hương khi khô, ở dạng bột hoặc dạng hạt lổn nhổn, màu vàng nâu, nâu đỏ hay đỏ tím, có bản chất là tinh dầu với thành phần chủ yếu là chất muskon có mùi thơm đặc trưng của xạ hương, ngoài ra còn có các chất béo, chất nhầy, chất nhựa... Thu hoạch xạ hương bằng cách bóc tách túi xạ (nằm ở đoạn giữa phần bụng và bộ phận sinh dục) rồi cắt ra làm 5 - 6 phần, cho vào lọ thủy tinh sạch, rộng miệng, trong đó đã có sẵn khoảng vài chục gam nụ đinh hương, đậy nắp lọ, xóc đều cho xạ hương rơi ra. Xạ hương nguyên chất có mùi thơm hắc, rất mạnh và rất bền mùi. Trong Đông y, xạ hương được xếp vào loại thuốc “phương hương khai khiếu”, tức là loại thuốc có mùi thơm mà tác dụng để khai mở các “khiếu”, khi bị bít tắc. Xạ hương có vị cay, tính ấm, có công năng khai khiếu tỉnh tỳ, khứ ứ huyết, giảm đau, thoái màng mộng (mắt), trừ mủ, tiêu ung nhọt, thúc thai sản.
Lưu ý khi dùng sản phẩm có xạ hương 1
 Xạ hương là dược liệu quý trong các chế phẩm thuộc Đông y.
Cách dùng xạ hương chữa bệnh:
Trị say nắng (trúng thử), trúng phong, thần chí bị hôn mê, đờm dãi bít tắc cổ họng, tạo ra tiếng thở “sòng sọc” ở khí quản: dùng hỗn hợp gồm bột xạ hương, bột xương bồ (thạch xương bồ hoặc thủy xương bồ), bột tạo giác (quả bồ kết bỏ hạt, sao vàng), bột băng phiến. Lấy một lượng nhỏ (bằng hạt đậu xanh) thổi mạnh vào lỗ mũi, người bệnh sẽ mau chóng tỉnh.
Chấn thương sưng tấy: dùng 0,4g xạ hương uống với nước sắc của kê huyết đằng, tô mộc, mỗi vị 10g, hồng hoa 8g.
Trị tiểu tiện buốt, tiểu ra sỏi: xạ hương 0,4g uống với nước sắc ngưu tất 12 - 16g.
Trường hợp thai bị lưu, có thể thúc thai ra bằng cách uống một hỗn hợp bột gồm 0,02g xạ hương với 2g bột nhục quế hoặc quế chi. 
Một số cổ phương đặc biệt của Ðông y có xạ hương:
Phương “Lục thần hoàn” gồm 6 vị: xạ hương 1g, trân châu 1,5g, ngưu hoàng 1,5g, hùng hoàng 1g, băng phiến 1g, thiềm tô 1g. Thiềm tô tẩm rượu để riêng. Các vị khác tán bột hòa với thiềm tô làm viên bằng hạt cải. Ngày uống 2 lần, mỗi lần 5 - 10 viên. Tác dụng: thanh nhiệt giải độc, giảm đau. Chữa chứng hầu họng sưng đau, trẻ em sốt cao, co giật, đinh độc, tuyến vú sưng đau.
An cung ngưu hoàng hoàn: xạ hương 25g, băng phiến (d.borneol) 25g, ngưu hoàng 10g, bột sừng trâu 200g, trân châu 50g, chu sa 100g, hùng hoàng 100g, hoàng liên 100g, hoàng cầm 100g, chi tử 100g, mật ong vừa đủ. Tất cả làm hoàn, mỗi hoàn 3g. Ngày uống 1 hoàn, uống liền 5 - 7 ngày. Tác dụng: thanh nhiệt giải độc, chỉ kinh, khai khiếu. Dùng cho những người tà nhiệt nhập vào phần tâm bào, nhập phần dinh, phần khí, phần huyết, gây sốt cao, phát cuồng, co giật, mê sảng; hoặc sau các tai biến mạch máu não (nhồi máu não) dẫn đến hôn mê, bất tỉnh.
Cần hết sức lưu ý đến việc sử dụng các sản phẩm chứa xạ hương, như nước hoa, xà phòng thơm... hoặc các thuốc Đông y trong thành phần có xạ hương đối với phụ nữ có thai, hiếm muộn, hay bị lưu thai hoặc khó thụ thai.          
GS.TS. Phạm Xuân Sinh

Thuốc hay từ cây dướng

Cây dướng có tên khác là chử thực, rau ráng, câu thụ. Dướng là loại cây mọc hoang, có nhiều ở các tỉnh phía Bắc nước ta. Bộ phận dùng làm thuốc là nhựa cây, vỏ rễ, vỏ thân. Theo Đông y, vỏ rễ có vị ngọt, tính bình, có tác dụng lợi tiểu, tiêu sưng. Nhựa cây có tác dụng sát khuẩn. Lá có vị ngọt nhạt, tính hàn, có tác dụng trị tả, cầm máu. Quả có vị ngọt, tính hàn, có tác dụng bổ thận, thanh can, minh mục, lợi niệu. Dưới đây xin giới thiệu một số tác dụng chữa bệnh từ các bộ phận của cây dướng.
Thuốc hay từ cây dướng 1
 Quả dướng bổ thận thanh can minh mục, là vị thuốc làm đẹp da, sáng mắt, mạnh gân cốt.
Chữa da thô xấu, mụn trứng cá, tàn nhang, mặt ám không tươi: chử thực 150g, thăng ma 15g, đinh hương 15g, sa nhân 15g, lục đậu 1.000g, bạch cập 30g, cam tùng 21g, nhu mễ 2.500g, địa liền 15g, tạo giác 1.500g. Các vị tán thành bột mịn, trộn đều. Dùng bột xoa lên da, mặt; ngày 2 lần (sáng, tối).
Chữa lỵ: lá dướng tươi 100g, rửa sạch, giã nát vắt lấy nước, cho uống.
Chữa phù toàn thân: vỏ cây dướng (cạo lớp vỏ ngoài) 12g, mộc thông 12g, phục linh 12g, tang bạch bì 4g, trần bì 4g, gừng 3 lát. Sắc uống ngày 1 thang.
Dùng cho người già yếu, suy nhược, tiểu tiện nhiều lần: quả dướng 12g, phục linh 10g, đỗ trọng 10g, kỷ tử 10g, bạch truật 10g, ngưu tất 8g, tiểu hồi hương 3g. Sắc ngày 1 thang, chia 3 lần.
Chữa khí lực suy tổn, thân thể gầy yếu, chân tay nhức mỏi, di tinh, đái đục: quả dướng 12g, ngưu tất 12g, ba kích 12g, hoài sơn 12g, viễn chí 12g, ngũ vị tử 12g, thục địa 12g, đỗ trọng 12g, xương bồ 12g. Sắc uống ngày 1 thang.
Chữa rong kinh: vỏ cây dướng (cạo lớp vỏ ngoài) 12g, kinh giới (sao) 12g. Sắc uống.
Kiêng kỵ: Người có tỳ thận hư nhược không nên dùng.           
 
TS. Nguyễn Đức Quang

 
Design by Free WordPress Themes | Bloggerized by Lasantha - Premium Blogger Themes | Laundry Detergent Coupons