Thứ Năm, 30 tháng 10, 2014

Dạ dày nhím có chữa được viêm loét dạ dày?

Từ xa xưa, thịt và các bộ phận của con nhím đã có mặt trong các bài thuốc mang tính dân gian như: lông nhím, thịt, ruột già, gan, phổi, mật và đặc biệt là dạ dày nhím.
Dạ dày nhím, còn gọi là hào trư đỗ có vị ngọt, tính hàn, không độc, vào được hai đường kinh vị và đại tràng, có tác dụng thanh nhiệt lợi thấp, cầm máu, giảm đau và giải độc, thường được dùng để chữa các chứng bệnh như ngộ độc, trĩ xuất huyết, lòi dom, di mộng tinh, nôn mửa, kiết lỵ ra máu và bệnh đau dạ dày. Sách “Bản thảo cương mục” cũng cho rằng: Dạ dày nhím có vị ngọt, tính hàn, không độc và được dùng để chữa bệnh dạ dày.
Trong dân gian, người ta thường dùng dạ dày nhím cắt nhỏ, sao cho phồng lên rồi tán bột, mỗi ngày uống 3 lần, mỗi lần 2 - 4g với nước sắc hoa hòe để chữa trĩ và lòi dom chảy máu. Hoặc lấy dạ dày nhím 1 cái rửa sạch, sấy khô, giã nhỏ, trộn với 100g gạo cẩm rang vàng, tán nhỏ, rây bột mịn, mỗi ngày uống 2 lần, mỗi lần 10g để chữa ngộ độc.
Dạ dày nhím có chữa được viêm loét dạ dày? 1Dạ dày nhím vị ngọt, tính hàn có tác dụng thanh nhiệt lợi thấp, cầm máu, giảm đau và giải độc.

Dạ dày nhím có chữa được viêm loét dạ dày? 2
Mật ong.

Với bệnh lý viêm loét dạ dày, người ta dùng dạ dày nhím còn chứa nguyên thức ăn bên trong đem phơi hoặc sấy khô rồi thái nhỏ, sao chín, tán thành bột mịn, mỗi ngày uống 10g vào lúc đói với nước cơm. Nếu uống kết hợp theo công thức: Bột dạ dày nhím + mật ong hoặc bột dạ dày nhím + mật ong + bột nghệ thì hiệu quả càng tốt.
Bởi lẽ, nghiên cứu hiện đại đã chứng minh: Mật ong và bột nghệ có tác dụng kháng khuẩn, tiêu viêm, làm dịu các cơn đau và làm mau lành các vết thương và vết loét. Đặc biệt, mật ong còn có khả năng đưa độ acid của dịch vị trở về trị số bình thường và có công dụng bồi bổ sức khoẻ rất kỳ diệu. Vả lại, trong y học cổ truyền, mật ong (phong mật) và nghệ đen (uất kim) hoặc nghệ vàng (khương hoàng) cũng là những vị thuốc thường có mặt trong các phương thang có công năng chữa trị chứng vị quản thống, một bệnh danh tương ứng với các bệnh như viêm loét dạ dày tá tràng, rối loạn chức năng dạ dày, rối loạn tiêu hóa… trong y học hiện đại.
Đối với dạ dày nhím, cho đến nay chưa có công trình nghiên cứu khoa học hiện đại nào chứng minh tác dụng chữa trị viêm loét dạ dày trên cả thực nghiệm và lâm sàng. Tuy nhiên, theo kinh nghiệm dân gian và qua quan sát nhiều trường hợp trong thực tiễn, có thể mạnh dạn áp dụng loại bột thuốc dạ dày nhím để chữa bệnh viêm loét dạ dày tá tràng ở một mức độ nhất định và khi dùng rất cần thiết phải có sự theo dõi chặt chẽ của các thầy thuốc có chuyên khoa.
Điều đáng nói ở đây là, hiện nay trên thị trường, dạ dày nhím có hai loại khác nhau: Loại có nguồn gốc từ nhím rừng và loại lấy từ nhím nuôi ở các trang trại và để nhằm mục đích trục lợi kiếm lời, gian thương còn tìm cách chế tác dạ dày nhím giả từ nhiều chất liệu khác nhau. Bởi vậy, khi mua người tiêu dùng phải hết sức thận trọng kẻo lại “tiền mất tật mang”. Cũng có ý kiến cho rằng: Dùng dạ dày nhím rừng để chữa bệnh thì có hiệu quả hơn là vì thức ăn của chúng rất phong phú và có những thứ mà nhím nhà không thể có được, hơn nữa tác dụng chữa trị của dạ dày nhím chính là các thức ăn chứa trong đó chứ không phải bản thân phủ tạng này. Tất cả những điều đó là những gợi ý rất lý thú cho các công trình nghiên cứu khoa học cẩn trọng và nghiêm túc.
Thạc sĩ Hoàng Khánh Toàn

Câu đằng chữa tăng huyết áp

Câu đằng còn gọi là vuốt lá mỏ, tên khác là dây móc câu, dây dang quéo, móc ớ, vuốt, co nam kho (Thái), pước cậu, nam lập câu (Tày), ghím tỉu (Dao)... Bộ phận dùng làm thuốc của cây câu đằng là đoạn thân có gai ở kẽ lá, cong và cứng như lưỡi câu, thu hái vào mùa hè thu, phơi hoặc sấy khô.
Đông y cho rằng, dược liệu câu đằng có vị ngọt, chát, tính hàn, không độc, có tác dụng thanh nhiệt, trấn kinh, trừ phong, bình can, hạ huyết áp (câu đằng có tác dụng hạ huyết áp là do hoạt chất rhynchophyllin quyết định; nó ức chế hệ thần kinh giao cảm, làm giãn các mạch máu ngoại vi. Đối với hô hấp, dùng với liều thấp có tác dụng hưng phấn; với liều cao lại làm hô hấp bị tê liệt), thường được dùng phối hợp với các vị thuốc khác trong những trường hợp như làm thuốc trấn kinh, chữa trẻ em kinh giật, chân tay co quắp, nổi ban, lên sởi; làm thuốc hạ huyết áp dùng điều trị bệnh tăng huyết áp, nhức đầu, hoa mắt.
Câu đằng chữa tăng huyết áp 1Cây và vị thuốc câu đằng.

Dưới đây là những phương thuốc trị liệu có câu đằng.
Chữa tăng huyết áp, nhức đầu, hoa mắt, chóng mặt: Chọn một trong các bài sau:
Bài 1: câu đằng 10g, xuyên khung 5g, quế chi 3g, cam thảo 2g. Tất cả thái nhỏ, sắc với 400ml nước còn 100ml uống làm 2 lần     trong ngày.
Bài 2: câu đằng 10g, lá dâu 8g, cúc hoa vàng 8g, hạ khô thảo 8g, thảo quyết minh 8g, sao vàng. Sắc uống chia 2 lần.
Bài 3: câu đằng, phòng phong, phục thần, cúc hoa vàng, đẳng sâm, phục linh, trần bì, mạch môn, mỗi thứ 15g; thạch cao 30g; cam thảo 7,5g. Tất cả tán nhỏ, rây bột mịn. Ngày dùng 2 lần, mỗi lần 12g dưới dạng nước sắc.
Bài 4: câu đằng, thạch quyết minh, ích mẫu, mỗi thứ 12g; hạ khô thảo 10g; đỗ trọng 9g; hoàng cầm 6g. Sắc uống trong ngày.
Bài 5: câu đằng 12g, kỷ tử, thạch hộc, sa sâm, hạ khô thảo, mạch môn, mẫu lệ, mỗi thứ 8g; trạch tả, địa cốt bì, cúc hoa, táo nhân, mỗi thứ 6g. Sắc uống, chia 2 lần.
Ngoài ra, câu đằng còn là vị thuốc dùng chữa trúng phong, liệt thần kinh mặt: Chọn một trong hai bài thuốc sau:
Bài 1: câu đằng 15g, bạch thược 12g, địa long 12g, trân châu 9g, đại hoàng 9g, trúc lịch 25ml. Sắc uống, chia 2 lần.
Bài 2: câu đằng 12g, dây hà thủ ô tươi 24g. Sắc uống trong ngày.
Chú ý: Khi sắc thuốc gần được mới cho câu đằng vào để cho sôi 1 - 2 phút, trào lên     là được. 
BS. Hoàng Xuân Đại

Bọ ngựa trị bệnh gì?

Bọ ngựa còn gọi  là con bù cào hoặc ngựa trời hay đường lang. Bộ phận dùng làm thuốc là toàn bộ con bọ ngựa (tên thuốc là đường lang) và tổ bọ ngựa trên cây dâu tằm (còn gọi là tang phiêu tiêu). Người ta thường bắt bọ ngựa còn sống, bỏ đầu, cánh, chân và ruột rồi đem rang chín và tán thành bột, đựng trong lọ kín dùng dần. Đông y cho rằng, bọ ngựa có vị ngọt mặn, tính ấm, không độc, có công dụng bổ thận cố tinh, tư âm sáp niệu, giải độc trấn kinh; thường được dùng để chữa các chứng di tinh, di niệu..., đi tiểu nhiều lần, hầu họng sưng đau, trĩ hạ, viêm loét, kinh giảm... 
Tang phiêu tiêu là tổ cái tổ bọc các quả trứng của con bọ ngựa sống trên cây dâu tằm. Tang phiêu tiêu có vị ngọt, mặn, tính bình, quy vào 2 kinh can và thận, có công dụng bổ thận tráng dương, cố tinh, sáp niệu, an thần, định chí...
Tang phiêu tiêu được thu hoạch dùng làm thuốc và lấy tổ vào tháng 10 đến tháng 1 hằng năm, lấy về phơi hoặc sấy khô, đựng trong lọ kín dùng. Khi dùng thì đập giập rồi sắc cùng các vị thuốc khác hoặc sao giòn, tán bột uống. Liều dùng chung của tang phiêu tiêu là từ 6 - 20g/ngày. 

 

Dưới đây là một số cách dùng bọ ngựa trị bệnh:
Chữa bệnh hầu sưng đau: bọ ngựa 1 con, băng phiến 3g, bằng sa 2g, sấy khô tán bột. Sau đó lấy bột này thổi vào họng ngày 2 - 3 lần.
Chữa bệnh sưng phù hai chân: bọ ngựa 2 con, vỏ bí đao 30g, trư linh 20g, phục linh 20g, râu ngô 20g. Sắc uống mỗi ngày 1 thang.
Chữa chứng bệnh động kinh: bọ ngựa 5g, cương tàm 9g, toàn yết 2g, ngô công 5g, bột trân châu 30g, bán hạ chế 30g, tất cả sấy khô tán bột. Ngày uống 2 lần, mỗi lần 2g.
Chữa  bệnh bị mẩn ngứa: bọ ngựa sấy khô, tán bộ. Vệ sinh sạch sẽ vùng bị mẩn ngứa rồi xoa bột bọ ngựa lên đó.
Thuốc bổ thận, trị đau lưng, đái són: tổ bọ ngựa 30g, ba kích 30g, thạch hộc 20g, đỗ trọng 20g. Tất cả thái nhỏ, phơi khô, tán bột mịn, trộn bột với mật ong làm hoàn to nặng 6g. Ngày uống 2 lần, mỗi lần 1 viên chiêu với nước rượu hâm nóng.
Hoặc tổ bọ ngựa 10g, kim anh 10g, liên tu 10g, sơn dược 12g, sắc với 400ml nước còn lại 100ml, chia 2 lần uống trong ngày (phương này rất hiệu nghiệm đối với người cao tuổi).
Trị xuất huyết ở dạ dày, phổi: lấy tổ bọ ngựa sao vàng, tán bột. Bạch cập 15g, sắc lấy 100ml, chia 3 phần; mỗi phần nước thuốc bạch cập uống với 3g bột bọ ngựa/lần, uống 3 lần trong ngày.
Chữa tiểu tiện không thông: tổ bọ ngựa 8g, hoàng cầm 10g, nấu với nước uống ngày 1 thang.
Chữa đái dầm: tổ bọ ngựa 12g, đẳng sâm 12g, phá cố chỉ 12g, ích trí nhân 8g, thỏ ty tử 8g, ba kích 8g, tất cả thái nhỏ, phơi khô, sắc uống ngày 1 thang, chia    3 lần.
BS. Hoàng Tuấn Linh

Tía tô trị cảm sốt, ho đờm

Tía tô (tử tô) vị cay, mùi thơm, tính ấm, là loại cây được trồng rất nhiều ở làng quê Việt Nam. Lá tía tô dùng để ăn sống hoặc nấu chín, là gia vị không thể thiếu trong nhiều món ăn. Các bộ phận của cây tía tô: lá tía tô (tô diệp), hạt tía tô (tô tử), cành tía tô (tô ngạnh) còn là vị thuốc quý chữa nhiều bệnh.
Tía tô trị cảm sốt, ho đờm 1
 Các bộ phận của cây tía tô đều có giá trị phòng chữa bệnh.
Cách dùng tía tô làm thuốc
Tán hàn, giải biểu: tía tô 8g, hương phụ 8g, trần bì 6g, cam thảo 4g. Sắc uống. Dùng cho chứng cảm mạo phong hàn, đau đầu do hàn, do nhiệt, vùng ngực đầy trướng.
Trừ đờm, dịu ho: dùng một trong các bài:
Bài 1: tô diệp 8g, sinh khương 8g, hạnh nhân 12g, bán hạ 12g. Sắc uống. Trị ngoại cảm phong hàn, trong thì có đờm trệ, ho có đờm.
Bài 2: tô tử 10g, bạch giới tử 10g. Tán bột. Uống với nước sắc lá táo chua và dây tơ hồng. Chữa ho, trừ đờm.
Bài 3: tô tử 10g, bạch giới tử 10g, lai phục tử 10g. Sao vàng, tán nhỏ, cho vào túi, sắc lấy 200ml. Chia uống 3 lần trong ngày. Trị ho hen có đờm, tức ngực khí ngược.
Lý khí, an thai: tía tô 8g, đương quy 12g, xuyên khung 8g, bạch thược 12g, đảng sâm 12g, trần bì 12g, đại phúc bì 8g, cam thảo 4g, sinh khương 8g. Sắc uống. Dùng khi đau trướng ngực; bụng, lưng, sườn đau; thai động không yên.
Tía tô trị cảm sốt, ho đờm 2
 Cháo tía tô tốt cho phụ nữ có thai đầy bụng, nôn, đau đầu, chóng mặt, khát nước.
Kiện vị, cầm nôn:
Bài 1: tía tô 8g, ngũ vị 4g, tang bạch bì 12g, phục linh 12g, chích thảo 4g, thảo quả 4g, đại phúc bì 12g, cát cánh 12g, sinh khương 12g. Sắc lấy nước, thêm ít muối, uống. Trị các chứng tâm hạ trướng đầy, nôn ọe, không ăn được mà thiên về hàn.
Bài 2: tô diệp 4g, hoàng liên 2,5g. Hãm với nước để uống. Trị phụ nữ có thai hồi hộp không yên.
Giải độc thức ăn cua cá: Có thể dùng 12g tươi hay khô sắc uống.
Phòng và chữa sốt xuất huyết: tía tô 15g, rau má 30g, cỏ nhọ nồi 30g, bông mã đề 20g. Sắc uống.
Một số món ăn bài thuốc có tía tô
Nước hãm gừng tươi tía tô: lá tía tô 30g, gừng tươi 15g, sắc hãm 15 phút, gạn nước thêm đường uống. Dùng cho các trường hợp ngoại cảm phong hàn, nôn, đau bụng.
Cháo tô diệp, ô mai: tử tô diệp 15g, ô mai 10g, gừng tươi 10g, trúc nhự 10g, gạo tẻ 60g. Các dược liệu sắc lấy nước, bỏ bã; gạo nấu thành cháo; khi cháo được cho nước thuốc vào khuấy, đun cho sôi. Ngày 1 lần, đợt dùng 5 - 7 ngày. Dùng cho phụ nữ có thai đầy tức bụng, nôn ói, đau đầu chóng mặt, đắng miệng, nhạt miệng, khát nước, dọa sẩy thai.
Tô diệp mai táo trà: tô diệp 6g, mận tươi 30g, đại táo 5 quả, trà 3g. Mận chín tươi hoặc mứt mận và đại táo đem nấu (nghiền nhuyễn) lấy nước, khi sôi đem đổ vào ấm có trà (chè) và tô diệp hãm tiếp, uống làm 2 lần trong ngày. Liên tục dùng trong 5 - 10 ngày. Dùng cho các trường hợp ho, mất tiếng, tắc nghẹn do rối loạn thần kinh chức năng, hysteria.
Kiêng kỵ: Người biểu hư, tự ra mồ hôi tuyệt đối không được dùng.          
  TS. Nguyễn Đức Quang

Món ăn từ cá trắm đen chống lão hóa

Cá trắm là loại thực phẩm rất quen thuộc, được chế biến thành nhiều món ăn ngon, bổ dưỡng, ngoài ra cá trắm còn có tác dụng phòng chữa bệnh. Cả hai loại trắm đều phòng chữa được nhiều bệnh. Vào mùa thu đông, thịt cá trắm thường ngon hơn.
Món ăn từ cá trắm đen chống lão hóa 1
 Cháo cá trắm bổ khí huyết, tốt cho người suy nhược.
Cá trắm màu đen là thượng phẩm trong các loại cá nước ngọt. Vị ngọt tính bình có công năng bổ thận khí, mạnh tỳ dưỡng vị bình can sáng mắt, hóa thấp, khứ phong, lợi thủy. Thích hợp với người tỳ vị hư nhược, mất sức, phù nề, viêm gan, thận, tê thấp. 100g thịt cá trắm đen có 19,5g đạm; nhiều axít amin; 5,2g chất béo; các khoáng canxi, photpho, sắt; các loại vitamin; chứa nhiều chất chống lão hóa. Sau đây xin giới thiệu các món ăn bài thuốc có cá trắm đen.
Bổ thận khí, dưỡng tỳ vị:
Bài 1: cá trắm đen 1 con khoảng 1kg, bỏ vẩy, ruột, rửa sạch, khứa rãnh 2 bên thân cá, để lên đĩa hấp gần chín cho gừng tươi, hành, rượu, ít mì chính chưng tiếp cho chín, ăn nóng.
Bài 2: cá trắm đen 1 con 1kg, giá đậu nành 500g, mầm tỏi 10g thái đoạn. Gia vị vừa đủ ướp thịt cá, rán vàng nấu cùng giá, tỏi thành canh để ăn.
Bài 3: cá trắm thái miếng 100g, mướp 300g. Cá rán giòn, mướp gọt vỏ thái khúc dài 3cm, lại thái sợi cho vào nồi nước sôi nấu một lúc vớt ra để ráo nước. Nước dùng nấu sôi cho hành gừng rượu và cá vào nấu, vớt bỏ bọt nấu sôi 5 phút cho mướp vào, nêm gia vị vừa ăn.
Bài 4: cá trắm đen 500g, 3 lát gừng với lượng gạo vừa đủ nấu cháo ăn.
Chi dưới không có lực: thịt cá trắm 120g, lá hẹ một lượng vừa đủ nấu canh ăn cái, uống nước.
Khí huyết bất túc, suy nhược sau ốm dậy: cá trắm 250g, hoàng kỳ 25g, đương quy 12g, nấu canh ăn cá uống canh bỏ bã thuốc.
Suy nhược cơ thể: cá trắm trắng 1 con, làm sạch, ướp đường, giấm nấu canh ăn. Đây là món ăn theo kinh nghiệm dân gian từ đời Tống, Trung Quốc có tên món “cá giấm Tây Hồ”, nay rất phổ biến với cách chế biến hiện đại ở các nhà hàng. Cá trắm 700g, gừng bột 1,5g, rau mùi vừa đủ, gia vị, xì dầu, rượu gạo, đường trắng, giấm, bột lọc, nước, mỗi thứ một ít. Làm sạch cá trắm, cắt thành 2 miếng trống và mái. Miếng có cả xương là miếng trống, còn miếng kia là mái. Từ hàm xuống cứ cách 4 - 5cm khía thành rãnh hoa. Từ phía sau vây ngực của miếng trống cắt đứt. Cho nước vào nồi nấu sôi, lần lượt cho miếng cá vào đậy vung nấu sôi, bỏ bọt, nấu chín tái để lại 250g nước canh (phần dư để riêng). Cho xì dầu, rượu gạo, gừng miếng, nấu sôi vớt cá ra đĩa. Nước canh trong nồi cho đường vào nấu sôi, dùng bột lọc nước làm sệt, cho giấm vào đảo đều, rót lên cá, rắc rau mùi và bột tiêu lên trên.       
  BS. Phó Đức Thuần

Thạch hộc trị suy nhược thần kinh

Thạch hộc (DendrobiumnobileLindl,), tên khác là kẹp thảo, hoàng thảo dẹt, kim thoa hoàng thảo, hoàng thảo cẳng gà, huỳnh thảo, tên Thái là co vàng sào, người chơi lan gọi là lan phi điệp hay phi điệp kép. Là một cây thảo phụ sinh, mọc bám trên cành cây to hoặc ở vách đá ẩm. Thân dẹt có rãnh dọc chia nhiều đốt, phía cuống thuôn hẹp, phía ngọn dày hơn, màu vàng nhạt. Lá ngắn có bẹ. Hoa màu hồng hoặc trắng pha hồng, mọc thành chùm ở kẽ những lá đã rụng. Quả dài hình thoi.
Bộ phận dùng làm thuốc của thạch hộc là thân cành, thu hái về, cắt bỏ rễ và lá, rửa sạch, ngâm nước ủ cho mềm, bóc bỏ lớp màng mỏng bên ngoài rồi phơi và sấy khô. Khi dùng, đồ chín, tẩm rượu thái nhỏ.
Thạch hộc trị suy nhược thần kinh 1Thạch hộc.
Thạch hộc có vị ngọt nhạt, hơi mặn, không độc, tính lạnh, có tác dụng bổ dưỡng thanh nhiệt, chỉ khát, sinh tân dịch chữa lao lực, gầy yếu, ho, sốt nóng, miệng khô khát, mồ hôi trộm, thiểu năng sinh dục ở nam giới, chân tay và lưng đau nhức, nóng trong, đau dạ dày, viêm ruột. Liều dùng hằng ngày: 8 - 16g dưới dạng thuốc hãm, thuốc sắc hoặc thuốc bôi. Dùng riêng hoặc phối hợp với các vị thuốc khác trong những trường hợp sau:
Chữa suy nhược thần kinh, chóng mặt, nhức đầu, hoa mắt, ù tai, khó ngủ: thạch hộc, kỷ tử, sa sâm, mạch môn, hạ khô thảo, mẫu lệ mỗi vị 12g; câu đằng 16g; địa cốt bì, trạch tả, táo nhân, cúc hoa, mỗi vị 8g. Tất cả tán nhỏ, sắc với 400ml nước còn 100ml, uống làm 2 lần trong ngày.
Chữa di, mộng tinh: thạch hộc, kim anh, sa sâm, mạch môn, khiếm thực, liên nhục mỗi vị 12g; quy bản 8g. Sắc uống trong ngày.
Chữa viêm bàng quang mạn tính: thạch hộc, sa sâm, thục địa, ngưu tất, vỏ núc nác mỗi vị 12g; kim ngân hoa 20g; mã đề, tỳ giải mỗi vị 16g. Sắc uống ngày 1 thang.
Chữa nha chu viêm, làm chắc chân răng: thạch hộc, sinh địa, huyền sâm, sâm, quy bản, ngọc trúc, kỷ tử, thăng ma, mỗi vị 12g; kim ngân hoa 16g, bạch thược 8g sắc lấy 200ml nước đặc, uống một nửa và ngậm một nửa dung dịch.
Chữa nóng trong, háo khát, thổ huyết: thạch hộc, sinh địa, thục địa, sa sâm, đan sâm, thiên môn, ngưu tất, mỗi vị 16g; ngũ vị tử 3g. Sắc uống. Hoặc thạch hộc 4g, chè xanh 2g, hãm với nước sôi, uống hoặc súc, ngậm trong ngày.
TTƯT.DS. Đỗ Huy Bích

Cây gai, có gai nhưng ăn không thủng bụng

Cây gai có vị ngọt đắng, tính mát, đi vào hai kinh tâm, thận; thường dùng để trị các bệnh đường tiểu như: bí tiểu, tiểu đục, tiểu ra máu, còn dùng để cầm máu và trị động thai.
Cây gai còn gọi là trữ ma, tầm ma, tầm gai, cây gai bánh. Tên khoa học Boehmeria nivea (L) Gaud, (Urtica nivea L), họ Gai.
Đây là cây mà dân gian vẫn dùng lá làm bánh gai ăn và sợi để dệt làm lưới đánh cá. Cây này thường mọc hoang. Có thể trồng bằng gốc hay giâm cành vào mùa xuân. Cây sống lâu năm, có thể cao tới 1,5 - 2m. Lá lớn, mọc so le, hình tim, dài 7 - 15cm, rộng 4 - 8cm, mép có răng cưa, đáy lá hình tim hay hơi tròn, mặt dưới trắng vì có nhiều lông trắng, mặt trên có màu lục sẫm, ráp, có 3 gân từ cuống phát ra.
Lá và rễ cây này đều dùng làm thuốc.
Lá bánh gai thu hái vào mùa hè, phơi khô, tán bột để làm bánh. Thân cây có sợi dừng để dệt bao bố.
Rễ được gọi là trữ ma căn, hái vào bất cứ mùa nào, nhưng tốt nhất là vào thu đông. Hái về rửa sạch đất phơi hay sấy khô. Rễ có vị đắng, tính hơi hàn, quy kinh tâm, thận. Tác dụng thanh nhiệt giải độc, tán ứ, thông lâm, an thai. Dùng trong các trường hợp đơn độc, sang lở, đái buốt, đái rắt, phụ nữ có thai đau bụng, ra huyết, xích bạch đới, viêm cổ tử cung. Liều dùng 10 - 20g.
Cây gai, có gai nhưng ăn không thủng bụng 1

Trong 100g cây gai có chứa: nước, protein 85,3g,  chất béo 0,5g, carbohydrates  5,4g, chất xơ 3,1g, tro 2g, vitamin A (beta caroten) 1,15mg, B1 (thiamine) 0,2mg, 0,39mg vitamin B5, 0,3mg pyridoxine, 0,1mg folic acid, 30mcg vitamin C, 333mg vitamin E, 0,8mg vitamin K, 498,6mcg biotin, 0,5mcg choline, 17,4mg kali, 334mg canxi, 481mg magiê, 57mg sodium, 80mg photpho, 71mg chlorine, 150mg sắt, 1,64mg mangan, 779mg đồng, 76mcg selenium, 0,3mg  kẽm…
Cầm máu: trong dân gian, khi muốn cầm máu vết thương, người ta rửa sạch lá, giã nát, đắp vào, thấy có tác dụng cầm máu tốt. Trong y lý của Đông y, máu màu đỏ thuộc hỏa, lá gai khi giã nát có màu đen - tương ứng với hành thủy. Trong ngũ hành, thủy khắc hỏa cho nên lá gai có thể cầm được máu. Theo dược lý hiện đại, lá gai có chlorogenic acid, flavonoid rhoifolin, apogenin. Chlorogenic acid thủy phân cho acid cefeitannic và quinic; do đó lá bánh gai có tính cầm máu.
Chống oxy hóa: chlorogenic acid có tính chống oxy hóa mạnh gấp 10 lần vitamin E. Nó phong tỏa nhóm “tự do”, ngăn chặn sự oxy hóa lipoprotein LDL, là khởi điểm của xơ động mạch để dẫn tới cao huyết áp và nhồi máu cơ tim. Cũng như vitamin E, nên dùng chlorogenic acid (lá gai) trước khi LDL bị oxy hóa. Lá gai có các flavonoid khác như rhoifolin và apigenin. Các flavonoid này có tính chống oxy hóa yếu.
An thai: rễ cây gai mới hái hoặc phơi khô 30g sắc với 600ml nước, cô làm 200ml, chia làm 3 lần uống trong ngày. Chỉ 1 - 2 ngày là có kết quả, không nên kéo dài.
Lợi tiểu: rễ và lá trung bình 10 - 30g sắc với nước uống.
Theo sách Nam dược thần hiệu (Tuệ Tĩnh): kết hợp rễ gai, hoa mã đề và hành; sắc nước uống trị tiểu buốt, tiểu rắt, sạn thận.
Tư âm thanh nhiệt, dưỡng huyết an thai: trữ ma căn 30g (nếu tươi dùng 60 - 90g), sinh địa 30g, gạo nếp 100 - 150g; sắc sinh địa và trữ ma căn lấy nước cốt rồi ninh với gạo nếp thành cháo, chế thêm gia vị, chia ăn vài lần trong ngày.
Dưỡng huyết an thai: trữ ma căn tươi 50g, hồng táo 10 quả, gạo nếp 100g; sắc trữ ma căn lấy nước nấu với gạo và hồng táo thành cháo, chế thêm gia vị, chia ăn vài lần trong ngày.
Trị động thai: rễ gai mới lấy hoặc đã phơi khô 30g, sắc với 600ml nước, còn 200ml, chia 2 lần uống trong ngày. Uống 1 - 2 ngày sẽ đỡ.
Trị phụ nữ có thai ra huyết dọa sảy, có thai bị đau bụng: rễ gai tươi 4 phần, tía tô 1 phần, lá ngải cứu 1 phần (mỗi phần 12g), sắc với nước uống trong ngày.
Trị có thai bị đau bụng, động thai: rễ gai 2 phần, cành tía tô 2 phần (mỗi phần 4g), băm nhỏ, phơi khô sắc với 400ml nước, cỡ còn 100ml uống hết 1 lần trong ngày. Nếu có rỉ máu thì cho thêm 10g lá huyết dụ.
Trị sa tử cung: rễ gai khô 30g sắc với 600ml nước, uống nhiều lần trong ngày. Uống liền 3 - 4 ngày.
Trị đại, tiểu tiện ra máu: lấy 15 - 20g lá gai sắc nước uống trong ngày.
Trị tiểu nước trắng đục như nước vo gạo: rễ gai 30g, rau dừa nước và thổ phục linh (mỗi thứ 20g), đinh lăng, trinh nữ và thương nhĩ tử (mỗi thứ 16g). Nấu với 1.000ml nước, cô lại còn 1/4 (250ml), chia 2 lần uống trong ngày.
Trị phong thấp đau nhức các khớp: rễ cây tầm gai (trữ ma căn), 50g, ngâm với 1 lít rượu 1 tuần. Sau đó, mỗi ngày uống 2 lần, mỗi lần 10ml.
Trị tay chân tê mỏi: rễ cây gai 15 - 20g, sắc uống.
Làm mụn nhọt bớt mưng mủ, giảm sưng đau: rễ gai và rễ vông vang (2 thứ bằng nhau) giã nát đắp lên mụn nhọt. Đắp 1 - 2 ngày.
Cầm máu vết thương: lá gai tươi rửa sạch, giã nát đắp vào vết thương, băng lại.
Ngăn ngừa rụng tóc: chiết xuất từ rễ có nhiều chất sắt, được dùng để ngăn ngừa rụng tóc.
Chú ý:
Cây gai có thể được coi là một loại rau, vì nó có nhiều vitamin (A, C, B2, B5, B9 và K, kẽm và đồng) cùng nhiều khoáng chất…
Khi được luộc chín, cây gai không còn gây ngứa nữa (gai đã mềm, không còn acid) và nước rau khá ngon (mùi hơi giống canh rau dền).
Bánh gai để lâu được là nhờ chlorogenic có tính chống nấm và vi khuẩn. Thị trường có bánh gai giả (nhuộm nâu) chỉ để vài ngày là mốc do không có lá gai (thiếu chlorogenic).
Không phải bệnh thực nhiệt không dùng.
 Lương y HOÀNG DUY TÂN

 
Design by Free WordPress Themes | Bloggerized by Lasantha - Premium Blogger Themes | Laundry Detergent Coupons