Thứ Hai, 28 tháng 12, 2015

Ngó sen bổ huyết, cầm máu

Ngó sen có tên thuốc là liên ngẫu. Dùng riêng, ngó sen 2-3 khúc, rửa sạch, cắt miếng, giã dập, sắc với 400ml nước còn 100ml, thêm ít mật ong, uống nóng, chữa thổ huyết. Ngó sen có tên thuốc là liên ngẫu. Dùng riêng, ngó sen 2-3 khúc, rửa sạch, cắt miếng, giã dập, sắc với 400ml nước còn 100ml, thêm ít mật ong, uống nóng, chữa thổ huyết. Trường hợp chảy máu cam, lấy ngó sen tươi (có thể thêm lá hẹ với lượng bằng nhau) rửa sạch, giã nát, vắt lấy nước uống và nhỏ vào lỗ mũi, máu sẽ cầm ngay (Nam dược thần hiệu). Ngó sen. Dùng phối hợp trong những trường hợp sau Chữa ho ra máu: Ngó sen 20g, bách hợp hoặc lá trắc bá 20g, cỏ nhọ nồi 10g....

Thuốc từ lá sung vú

Lá sung vú có thể dùng trong các trường hợp làm thuốc bổ cho người mới ốm dậy, kém ăn, mất ngủ; làm thuốc lợi sữa; chữa gan nóng, vàng da; chữa sốt, cúm đau nhức, chữa bị thương, bong gân, sai khớp... Lá sung (loại lá bánh tẻ) đang xanh tốt thường bị một loài sâu thuộc nhóm P.syllidae sống ký sinh làm cho mặt lá đang phẳng và nhẵn trở nên sần sùi, nổi lên những cục hoặc mụn nhỏ, thường gọi là vú sung. Người ta gọi những lá đó là lá sung vú hoặc lá sung có tật, sung cóc... Có thể dùng lá sung vú trong những trường hợp sau: Dùng trong: - Thuốc bổ dùng cho người mới ốm dậy, kém ăn, mất ngủ: Lá sung vú 200g, củ mài, hạt sen, đẳng sâm, thục...

Vị thuốc từ phân tằm

Phân tằm khi phơi khô dùng để làm thuốc, còn gọi là Tám mễ, Vân tàm sa, đông y gọi là Tàm sa, tên khoa học là Faeces Bombycum hoặc Exerementum Bombycis. Là vị thuốc được ghi đầu tiên trong sách "Danh y biệt lục". Phân tằm khi phơi khô dùng để làm thuốc, còn gọi là Tám mễ, Vân tàm sa, đông y gọi là Tàm sa, tên khoa học là Faeces Bombycum hoặc Exerementum Bombycis. Là vị thuốc được ghi đầu tiên trong sách "Danh y biệt lục". Người ta thường thu hoạch phân của con tằm dâu (Bombyx mori Linnaeus thuộc họ Moraceae hay Urticaceae) để phơi khô làm thuốc vào mùa xuân hoặc mùa hạ. Sau khi lấy phân này sẽ được loại bỏ những lá dâu mà tằm chưa ăn, cùng...

Củ mài chữa rối loạn tiêu hóa

Củ mài được thu hoạch vào mùa đông hoặc đầu xuân, lúc cây tàn lụi chỉ còn lại những chùm quả khô, củ đào về, cắt bỏ gốc thân, rửa sạch đất rồi đồ hoặc ủ cho mềm, thái lát, sấy khô dùng sống. Củ mài được thu hoạch vào mùa đông hoặc đầu xuân, lúc cây tàn lụi chỉ còn lại những chùm quả khô, củ đào về, cắt bỏ gốc thân, rửa sạch đất rồi đồ hoặc ủ cho mềm, thái lát, sấy khô dùng sống. Nếu dùng chín thì đem sao nhỏ lửa cho đến khi dược liệu có màu vàng đều. Cần chế biến ngay, không để tươi lâu quá 3 ngày, củ sẽ bị hỏng thối. Củ mài cho vị thuốc hoài sơn. Trong y học cổ truyền, củ mài đã chế biến có tên thuốc là hoài sơn. Hoài sơn vị ngọt, tính...

Thỏ ty tử - thuốc bổ dương, ích âm

Thỏ ty tử là hạt chín già đã phơi sấy khô của cây thỏ ty tử. Thỏ ty tử chứa alcaloid, lignan, flavonoid, axit hữu cơ và dầu béo. Thỏ ty tử là hạt chín già đã phơi sấy khô của cây thỏ ty tử. Thỏ ty tử chứa alcaloid, lignan, flavonoid, axit hữu cơ và dầu béo. Theo Đông y, thỏ ty tử vị ngọt, cay, tính hơi ôn; vào các kinh can và thận. Có tác dụng ôn thận tráng dương, ích âm, cố tinh, súc niệu, bổ gan, sáng mắt. Trị các chứng thận hư, liệt dương, tiểu tiện không tự chủ, bạch đới, tỳ hư tiết tả, tiêu khát. Liều dùng: 12g-16g. Thỏ ty tử được dùng làm thuốc trong các trường hợp: Ôn thận tráng dương: dùng trong trường hợp thận hư, liệt dương, di...

Mai ba ba bổ âm, ích khí

Theo y học cổ truyền, mai ba ba với tên gọi là miết giáp, thủy ngư xác hay miết xác, có vị mặn, tính hàn, không độc, Theo y học cổ truyền, mai ba ba với tên gọi là miết giáp, thủy ngư xác hay miết xác, có vị mặn, tính hàn, không độc, vào 3 kinh can, phế và tỳ, có tác dụng bổ âm, ích khí, thanh nhiệt, tán kết, nhuận táo, giảm đau, điều kinh. Thường dùng chữa suy nhược, gầy yếu, đau lưng, nhức xương, mồ hôi trộm, sỏi thận, kinh nguyệt bế, sốt rét... Dùng riêng hoặc phối hợp với các vị thuốc khác. Một số đơn thuốc thường dùng: Chữa kinh nguyệt bế tắc do cơ thể suy nhược: Mai ba ba 30g, chim bồ câu 1 con, rượu vang một chút và gia vị vừa đủ....

Cây dướng làm thuốc

Theo Đông y, quả của cây dướng có vị ngọt, tính hàn, có tác dụng bổ thận, thanh can, minh mục, lợi niệu. Chữa cảm ho, lưng gối mỏi nhừ, nóng ở trong xương cốt, đầu choáng, mắt mờ, mắt có màng mộng, phù thũng trướng nước. Cây dướng còn có tên là chử thực tử, rau ráng, câu thụ, tên khoa học: Broussonetia papyrifera (L.) L'Hérit. ex Vent. Dướng là loại cây mọc hoang, thấy nhiều tại các tỉnh phía Bắc của nước ta. Theo Đông y, quả của cây dướng có vị ngọt, tính hàn, có tác dụng bổ thận, thanh can, minh mục, lợi niệu. Chữa cảm ho, lưng gối mỏi nhừ, nóng ở trong xương cốt, đầu choáng, mắt mờ, mắt có màng mộng, phù thũng trướng nước. Liều 10 - 15g....

Thứ Sáu, 25 tháng 12, 2015

Cây hồ đào bổ thận, đen tóc

Nhân hồ đào vị ngọt, tính ấm, bổ thận, cố tinh, nhuận phế, định suyễn, nhuận tràng, trị thận hư ho suyễn, eo lưng đau, chân yếu, dương nuy, di tinh, đại tiện táo, bí tiểu luôn. Cây hồ đào ta gọi là cây óc chó, có tên trong vị thuốc đông y gọi hồ đào nhục, hạch đào. Cây được trồng ở một số vùng biên giới như Lào Cai, Hà Giang, Cao Bằng. Là loại cây sống lâu năm, có thể cao tới 20m, lá kép lông chim lẻ, thường có từ 7 - 9 lá chét, mép nguyên, không cuống, hình trứng thuôn, khi vò ra có mùi hăng đặc biệt. Hoa đơn tính cùng gốc họp thành đuôi sóc. Quả hạch, bọc trong một lớp vỏ nạc, khi chín không nứt, hạch rất cứng màu vàng, trong có chứa hạt...

Kê nội kim trị bệnh đường tiêu hoá

 Theo y học cổ truyền, kê nội kim có vị ngọt, tính bình, vào kinh tỳ, vị, tiểu trường và bàng quang. Theo y học cổ truyền, kê nội kim có vị ngọt, tính bình, vào kinh tỳ, vị, tiểu trường và bàng quang. Có tác dụng tiêu thức ăn, kiện tỳ, chữa các bệnh rối loạn tiêu hóa, biếng ăn, ăn không tiêu, bụng đầy trướng, đại tiện lỏng, viêm dạ dày, ruột... Kê nội kim là lớp màng màu vàng phủ mặt trong của mề gà. Khi mổ gà, người ta thường mổ mề gà, bóc lấy lớp màng bên trong rồi rửa sạch phơi khô làm thuốc. Loại màng tốt có màu vàng nâu, trên mặt có nhiều vết nhăn dọc, rất giòn, dễ vỡ vụn, vết bẻ có cạnh bóng. Một số đơn thuốc có sử dụng kê nội...

Dây kim cang chống viêm dị ứng

Dây kim cang là loại cây mọc hoang tại các tỉnh miền núi và trung du nước ta như Quảng Ninh, Nam Định, Hà Nam, Ninh Bình... thường gặp ở ven đường, bờ bụi, trên các đồi trọc, còn tên gọi là khúc khắc, thổ phục linh, củ cun, kim cang mỡ, cây nâu, Dây kim cang là loại cây mọc hoang tại các tỉnh miền núi và trung du nước ta như Quảng Ninh, Nam Định, Hà Nam, Ninh Bình... thường gặp ở ven đường, bờ bụi, trên các đồi trọc, còn tên gọi là khúc khắc, thổ phục linh, củ cun, kim cang mỡ, cây nâu, khau đâu (Tày), D rạng lò (Châu mạ), tơ pớt (K ho), lái (K dong) và mọt hoi đòi (Dao)... Bộ phận dùng làm thuốc lá rễ củ (Rhizoma Heterosmilacis),...
Page 1 of 74612345Next

 
Design by Free WordPress Themes | Bloggerized by Lasantha - Premium Blogger Themes | Laundry Detergent Coupons