Thứ Sáu, 22 tháng 8, 2014

Hoắc hương

(SKDS) - Hoắc hương còn có tên gọi là quảng hoắc hương, thổ hoắc hương. Là loại cây  thảo sống lâu năm, cao 30 - 60 cm. Thân màu nâu, có lông dày mịn. Lá mọc đối, phiến lá hình trứng, mép có răng cưa to, có lông ở cả hai mặt. Hoa màu hồng tím nhạt, mọc thành bông ở nách lá hay ở ngọn cành. Quả bế, có hạt cứng. Mùa hoa quả tháng 5 - 6,  cây mọc hoang hoặc trồng vào mùa xuân. Thu hái quanh năm, chủ yếu là trước khi cây ra hoa, đem rửa sạch, phơi khô.
Theo y học cổ truyền, hoắc hương có vị cay, mùi thơm hắc, tính hơi ấm, có tác dụng tiêu hoá, hành khí, giảm đau... được dùng chữa cảm mạo trúng nắng, trúng thực, nhức đầu, sổ mũi, đau người, đau bụng ỉa chảy ngực bụng đau tức, hôi miệng...
Một số bài thuốc theo kinh nghiêm dân gian:
Bài 1:Chữa cảm cúm, nhức đầu, mệt mỏi: Hoắc hương 6 - 12g rửa sạch, cho 550ml nước, sắc còn 200ml chia 2 lần uống trong ngày.  Có thể phối hợp với các vị thuốc khác như kinh giới, tía tô, ngải cứu, hương nhu.
Bài 2:  Chữa ho do lạnh: Hoắc hương 12g, lá chanh 5 lá, gừng 3 lát,  chua me đất, cam thảo đất mỗi vị 6g. Tất rửa sạch, thêm 550ml nước, sắc còn 250ml, chia 2 lần uống trong ngày, uống lúc còn nóng. Dùng liền 9 ngày.
 Đại táo.
Bài 3:
 Chữa ăn uống không tiêu, sôi bụng: Hoắc hương 12g, thạch xương bồ 12g, hoa cây đại 12g, vỏ bưởi đào sao cháy 6g. Tất cả tán thành bột, trộn đều uống trước bữa ăn nửa giờ, mỗi lần 2g với nước ấm, ngày uống 3 lần. Dùng liền 5 ngày. 
Bài 4:  Chữa cảm mạo, ăn không tiêu, đau bụng (Bài Hoắc hương chính khí): Hoắc hương 12g, tô diệp 10g, thương truật 8g, cam thảo 3g, trần bì 5g, đại táo 4 quả, hậu phác 3g, phục linh 8g. Tất cả tán bột đều chia thành từng gói 8 - 10g. Người lớn uống mỗi lần 1 gói, ngày 2 lần, dùng liền 5 ngày.
Chú ý: Người cơ thể gầy yếu, thiếu máu, tăng huyết áp, ngủ kém, táo bón không nên dùng.            

Bác sĩ  Trần Hải

Thiên ma giảm đau, an thần

(SKDS) - Thiên ma còn gọi là định phong thảo, thần thảo, vô phong tự động thảo, chân tiên thảo, minh thiên ma, hợp ly... Thiên ma thuộc họ lan. Là một loài thực vật đặc biệt, kỳ lạ không có chất diệp lục, toàn thân màu vàng đỏ, trông xa như một mũi tên, rễ thẳng đứng giống hình chân người, lá hình vẩy cá, vì vậy còn được gọi là “cây mũi tên đỏ”. Khi đào gốc lên thấy có những thân ngầm, hình dạng giống củ khoai tây. Nếu củ to có thể bằng quả trứng nhưng không có rễ. Thân củ đó cho vị thuốc thiên ma. Cây thường mọc ở những nơi ẩm ướt.
 
Nếu cây trồng tại vườn có thể thu hoạch 1 năm 2 vụ, mùa xuân và các tháng 4 - 5, vụ đông vào các tháng 9 - 10 (chất lượng tốt hơn). Hiện nay trên thị trường xuất hiện nhiều thiên ma giả người tiêu dùng cần phân biệt. Thiên ma thật có chất cứng đặc, một đầu có nha bào khô màu đỏ nâu, một đầu có rốn tròn thành sẹo, trên củ có vằn. Loại tốt có chất đặc bóng, hơi trong, cầm thấy nặng, không có tâm rỗng, cắt ngang trong suốt. Nếu cầm thấy nhẹ, cắt ngang có màu tối sạm, tâm rỗng thì chất lượng kém hơn.
Theo y học cổ truyền, thiên ma có vị ngọt, tính bình, vào kinh can. Có công dụng: bình can tức phong, định kinh, trấn kinh, an thần, chỉ thống. Ngoài ra còn được dùng để ngâm rượu, pha trà uống, làm canh dưỡng sinh, nấu cháo... để điều trị các chứng tê nhức, đau mỏi hay bồi dưỡng cơ thể có kết quả rất tốt, phương pháp làm lại giản đơn.
 Thiên ma, an thần chỉ thống.
Một số bài thuốc áp dụng:
Chữa tăng huyết áp, suy nhược thần kinh: Cá chép 1 con, thiên ma 10g, xuyên khung 10g, phục linh 10g, xương lợn 200g. Cách chế biến như sau: Cá chép làm sạch bỏ ruột, thiên ma, xuyên khung, phục linh rửa sạch thái lát cho vào bụng cá. Xương lợn ninh lấy nước, cho cá chép đã chế biến vào hầm nhừ (khoảng 30 phút). Sau đó bắc ra thêm gừng, hành tươi gia vị. Chia 2 lần ăn trong ngày, ăn lúc còn nóng. Dùng 5 ngày một liệu trình.
Chữa đau đầu choáng váng, hoa mắt chóng mặt, mất ngủ: Thiên ma 10g, trần bì 6g, phục linh 15g. Tất cả rửa sạch, sắc lấy nước, thêm chút đường trắng. Chia 2 lần uống trong ngày, dùng liền 9 ngày.
Chữa đau nửa đầu,  suy nhược thần kinh: Thiên ma 10g, óc lợn 1 cái.  Óc lợn, thiên ma rửa sạch cho vào nồi, thêm chút nước, đun nhỏ lửa trong khoảng 1 giờ thành dạng canh đặc, bỏ bã thiên ma, thêm gia vị cho vừa. Chia 2 lần ăn trong ngày, cách ngày ăn 1 lần, ăn liền 10 ngày.
Giảm đau: Với các biểu hiện nhức đầu, chóng mặt và phong thấp, đau khớp, lưng gối yếu mềm,.. do các chứng can phong: Thiên ma 20g, xuyên khung 6g, tất cả tán bột mịn bào chế thành viên. Mỗi lần uống 4 - 8g, ngày 3 lần. dùng 10 ngày một liệu trình.            

Bác sĩ Hữu Đức

Trạch tả lợi tiểu, bổ gan

(SKDS) - Trạch tả thuộc họ trạch tả, tên khác là mã đề nước, là một cây thảo, cao 40-50cm. Bộ phận dùng làm thuốc của trạch tả là thân rễ, thu hái vào mùa thu là tốt nhất, cạo hết rễ, rửa sạch, phơi hoặc sấy khô.
Theo Đông y, trạch tả có vị ngọt, tính hàn, không độc, có tác dụng lợi tiểu, tiêu thũng, trừ thấp, kiện vị, giảm béo, thanh nhiệt. Ngày dùng 10-12g dưới dạng nước sắc, tán bột hoặc hoàn viên uống. Dùng riêng hoặc phối hợp với các vị thuốc khác trong những trường hợp sau:
Chữa thủy thũng, cổ trướng: trạch tả, xích phục linh, mạch môn, bạch truật, mỗi thứ 12g; vỏ rễ râu, tía tô, hạt cau, mộc qua, mỗi thứ 10g; đại phúc bì, trần bì, sa nhân, mộc hương mỗi thứ 8g; đăng tâm 10 sợi. Tất cả thái nhỏ, sắc với 400ml nước, còn 100ml, uống làm 2 lần trong ngày.
Hoặc trạch tả 12g, ý dĩ sao 10g, tỳ giải 10g. Tán bột hoặc sắc uống.
Chữa tiểu tiện khó, đái rắt, đái buốt: trạch tả 12g, sa tiền tử 10g, thông thảo 6g. Sắc uống ngày một thang.
Chữa cước khí, bí tiểu tiện, tức ngực: trạch tả 10g, khiên ngưu 8g, binh lang, xích phục linh, chỉ xác, mộc thông, mỗi thứ 6g. Tất cả tán thành bột, nấu với gừng tươi, hành ta lấy nước uống trong ngày
Chữa viêm thận, đái ít, phù: trạch tả 16g, bạch truật, phục linh, trư linh, mỗi thứ 12g; quế chi 8g. Tất cả thái nhỏ, phơi khô, sắc uống.
Chữa lipid máu cao: trạch tả 8g, mộc hương, thảo quyết minh, tang ký sinh, mỗi thứ 6g; hà thủ ô đỏ, hoàng tinh, kim anh tử, sơn tra, mỗi thứ 3g. Tất cả nấu với nước thành cao rồi trộn với bột gạo làm thành viên, mỗi viên tương đương với 1,1g dược liệu. Ngày uống 2 lần, mỗi lần 5-8 viên.
Chữa gan nhiễm mỡ: trạch tả 20g, hà thủ ô (sống), thảo quyết minh, đan sâm, hoàng kỳ, mỗi vị 15g; sơn tra (sống) 30g, hổ trương 15g, hà diệp 15g. Sắc nước uống, ngày một thang.
Chữa béo phì đơn thuần: trạch tả, thảo quyết minh, sơn tra, mỗi thứ 12g: phan tả diệp 8g. Tất cả thái nhỏ hãm với nước sôi, uống làm hai lần trong ngày. Một đợt điều trị kéo dài 4 tuần.      

  DS. Hữu Bảo

Bài thuốc chữa bệnh từ củ riềng

Trong y học cổ truyền, củ riềng có vị cay thơm, tính ấm vào hai kinh tỳ và vị, có tác dụng ôn trung, giảm đau, tiêu thức ăn, chữa đau bụng do lạnh, phong thấp, sốt rét, hắc lào, lang ben…
Cây riềng là loại cây nhỏ, thân rễ mọc bò ngang, dài. Cụm hoa mặt trong màu trắng, mép hơi mỏng, kèm hai lá bắc hình mo, một màu xanh, một màu trắng. Lá không cuống, có bẹ, hình mác dài. Củ riềng có tên là phong khương, cao lương khương, tiểu lương khương, có khá (Thái), kìm sung (Dao). Ở nước ta, cây riềng mọc hoang và được trồng ở khắp nơi, không chỉ được dùng làm gia vị mà còn được sử dụng làm thuốc. Bộ phận làm thuốc rễ (củ) phơi khô. Cách chế biến: đào rễ, rửa sạch đất, cắt bỏ rễ con rồi cắt thành từng đoạn 2 - 3cm, phơi khô. Riềng được dùng cả trong y học hiện đại và y học cổ truyền. Theo nghiên cứu hiện đại, thành phần hóa học của riềng có khoảng 1% tinh dầu, có mùi thơm long não, chủ yếu có xineola và metylxinnamat. Ngoài ra, còn có chất dầu vị cay gọi là galangola được dùng để làm thuốc kích thích tiêu hóa, chữa đầy hơi...

Bài thuốc chữa bệnh có sử dụng riềng
Chữa đau bụng do lạnh: củ riềng 20g, nụ sim 8g, búp ổi 60g, tất cả sấy khô, tán bột. Ngày uống 3 lần sau ăn, mỗi lần 5g với nước sôi để nguội. Hoặc củ riềng 200g, quế 120g, hậu phác 80g, sấy khô. Sắc uống mỗi lần 12g với 200ml nước, còn 50ml uống trong ngày. Dùng trong 2 - 4 ngày.
Chữa phong thấp: riềng, vỏ quít, hạt tía tô mỗi vị 60g, sấy khô, tán nhỏ, mỗi lần dùng 4g, có thể pha với một chén nước sôi để nguội hoặc rượu, uống ngày 2 lần. Dùng trong 5 - 7 ngày.
Chữa sốt rét: bột riềng 300g, bột quế khô, bột thảo quả mỗi thứ 100g, tất cả đem trộn với mật làm viên to bằng hạt ngô. Mỗi ngày dùng 15 viên trước khi lên cơn. Hoặc riềng tẩm dầu vừng sao 40g, gừng khô nướng 35g tán nhỏ, hòa mật lợn làm hoàn thành viên bằng hạt ngô, uống ngày 15 - 20 viên.
Trị chứng đầy bụng, khó tiêu: riềng thái lát mỏng, đem muối chua, khi dùng có thể ngậm với vài hạt muối hoặc nhai nuốt dần. Ngày dùng 2 - 3 lần.
Chữa đau dạ dày do hư hàn (đau có thời gian nhất định, gặp lạnh hay đói đau nhiều, đầy bụng, nôn nước trong, đại tiện lỏng, ăn uống không ngon, sợ lạnh, lưỡi nhạt, rêu lưỡi trắng, mạch trầm): củ riềng, hương phụ mỗi vị 8g, bách hợp, đan sâm mỗi vị 30g, ô dược 10g, đinh hương 7g, sa nhân 4g. Sắc với 3 bát nước còn 1 bát, chia 2 lần uống trong ngày. Dùng trong 5 ngày.
Chữa hắc lào: củ riềng già 100g, giã nhỏ, ngâm với 200ml rượu hoặc cồn 70 độ. Chiết ra dùng dần, khi dùng, bôi dung dịch cồn nói trên vào chỗ tổn thương, ngày bôi 2 - 3 lần.
Chữa lang ben: củ riềng 100g, lá và củ chút chít 100g, chanh một quả, hai thứ giã nát rồi vắt nước chanh, đun nóng. Khi dùng lấy bông y tế thấm dịch thuốc bôi đều lên vùng tổn thương, ngày bôi 2 lần. Dùng trong 5 - 7 ngày.
Chữa ho, viêm họng, tiêu hóa kém: riềng củ thái lát mỏng, đem muối chua, khi dùng có thể ngậm với vài hạt muối hoặc nhai nuốt dần.
Chữa ăn không tiêu, buồn nôn hoặc đau bụng thổ tả: hạt riềng tán nhỏ, uống 6 - 10g.
Chữa tỳ vị hư hàn, đau bụng sôi bụng, đại tiện phần lỏng:riềng 12g, bạch truật 12g, lá lốt 16g, lá ổi 16g, sinh khương 6g. Cho các vị vào ấm đổ 3 bát nước sắc lấy 1,5 bát. Chia uống làm 2 - 3 lần trong ngày.
Chữa tiêu chảy nhiều lần, phân có lẫn bọt, quấy khóc ở trẻ em: hoài sơn 10g, liên nhục 10g, củ riềng 6g, bạch truật 10g, biển đậu 10g, hậu phác 4g, trần bì 6g, sinh khương 4g. Cho các vị vào ấm đổ nước 2 bát, sắc còn 1 bát, chia làm 2 - 3 lần uống trong ngày.
Chữa ngộ độc thức ăn, đau bụng, nôn mửa, có những trường hợp đau bụng dữ dội kèm theo đại tiện lỏng, cơ thể có biểu hiện mất nước, rối loại điện giải, mạch nhanh, huyết áp dưới mức bình thường: củ riềng 16g, hoàng liên 10g, biển đậu 12g, bạch truật 12g, hoài sơn 16g, liên nhục 12g, sinh khương (nướng) 10g, thảo quả 10g, quế 6g, chích thảo 10g, bán hạ chế 8g. Cho các vị vào ấm, đổ nước 3 bát, sắc còn 1,5 bát, chia làm 3 lần uống (cách 2 giờ uống 1 lần).
Chữa chứng “Ngũ Canh tả” cứ khoảng 5 giờ sáng là cần đi ngoài, khi muốn đi thì phải đi ngay, không ngừng lại được, phân lỏng, cơ thể yếu mệt, bụng lạnh, chân tay lạnh.
Nguyên nhân do tỳ thận dương hư.
Dùng bài thuốc: củ riềng phơi khô 16g, cẩu tích 12g, ngũ gia bì 12g, sơn thù 12g, hoài sơn 16g, cố chỉ 10g, đỗ trọng (sao muối) 12g, khởi tử 10g, bạch truật (sao hoàng thổ) 16g, hậu phác 12g, bán hạ chế 10g, trần bì 10g, sinh khương 6g, quế 10g, chích thảo 10g. Sắc uống ngày 1 thang, 10 - 12 ngày là một liệu trình.
Bài thuốc xoa bóp
Củ riềng phơi khô 20g, thiên niên kiện 16g, quế 24g, thạch xương bồ 20g, trần bì (sao) 16g, nhân hạt gấc (sao vàng) 20g. Các vị thái nhỏ, bỏ vào chai thủy tinh, đổ ngập rượu để ngâm.
Sau 10 ngày là có thể dùng được. Lấy bông tẩm vào thuốc, xoa vào chỗ đau, kết hợp day, bấm nhẹ. Dùng trong những trường hợp đau xương đau mình trật ngã, sang chấn, sưng đau các khớp, thần kinh tọa, đau nhức cục bộ…
BS. HOÀNG SƠN

Cây chìa vôi chữa đau nhức xương, bong gân, tê thấp, mụn nhọt sưng tấy

Chìa vôi còn có tên là bạch phấn đằng, rau chua... Cây nhỏ, mọc leo, dài 2 - 4m, thân tròn nhẵn, gốc có củ, toàn thân phủ phấn trắng (nên có tên là bạch phấn đằng). Tua cuốn hình sợi đơn. Lá đơn, hình dạng thay đổi, thường xẻ thuỳ chân vịt, phía cuống hình tim, dài và rộng đến 6 - 8cm; những lá phía gốc hình mác gần như nguyên, các lá phía trên chia 5 - 7 thuỳ dài gần bằng nhau, mép hơi có răng cưa. Hoa màu vàng nhạt, mọc thành ngù đối diện với lá, nhưng ngắn hơn lá và có cuống. Quả nang tròn, 5 - 6mm, khi chín màu đen. Mùa hoa tháng 4 - 6, có quả tháng 5 - 10.
Cây mọc hoang ở rừng thưa, ven suối, bờ bụi, hàng rào và được trồng ở nhiều nơi vùng đồng bằng. Thu hái quanh năm, tốt nhất vào mùa thu, đông.
Theo Đông y, chìa vôi có vị đắng, chua, hơi the, tính mát, có tác dụng thông kinh, phá huyết, trừ tê thấp, tiêu độc, sát trùng; thường dùng chữa đau nhức xương, bong gân, tê thấp, mụn nhọt sưng tấy, vết ong đốt, rắn cắn,…
Một số bài thuốc có sử dụng cây chìa vôi
Hỗ trợ điều trị phong thấp, đau nhức xương: Chìa vôi 20g, dây đau xương 15g, rễ lá lốt 15g, nước 500ml, sắc còn 250ml, chia 3 lần uống trong ngày. Hoặc dùng: Dây chìa vôi 50g, đương quy 20g, xuyên khung 10g, ngưu tất 40g, cẩu tích 20g. Tất cả các vị thuốc ngâm trong 1 lít rượu trắng sau 1 tuần là dùng được, mỗi ngày uống 2 lần, mỗi lần 1 chén nhỏ (khoảng 30ml)
Chữa bong gân: Lá chìa vôi, lá đau xương, lá thầu dầu tía, các vị bằng nhau, giã nát, trộn với dấm hoặc rượu (một miếng đắp cần khoảng 20ml dấm hoặc rượu) sao nóng, đắp và bó vào chỗ bị chấn thương, khi khô lại thay miếng khác, làm 1 - 2 lần trong ngày. Hoặc dây chìa vôi 50g, gừng tươi 50g, rượu trắng 20ml, tất cả đem giã nhuyễn rồi bó vào khớp đau.
Chữa vết ong đốt: Giã nhuyễn lá, dây, củ cây chìa vôi để đắp.
Chữa viêm da lở ngứa: Dùng một nắm lá chìa vôi tươi rửa sạch, giã nát đắp băng lại khoảng 1giờ, ngày 1 lần, kết hợp dùng thuốc uống tiêu độc: Thổ phục linh 20g, kim ngân hoa 10g, bồ công anh 10g, sắc uống ngày một lần. Dùng 5 ngày một liệu trình.
Chữa đau bụng sau sinh: Theo kinh nghiệm dân gian, phụ nữ sau sinh bị đau bụng lấy một nắm dây chìa vôi sao nóng đắp lên bụng có tác dụng giảm đau rất tốt.
Chữa mụn nhọt sưng tấy: Dây lá chìa vôi 1 nắm, rửa sạch, giã nát với mấy hạt muối lấy nước uống còn bã đắp đến khi khỏi.   

  Bác sĩ  Thu Vân

Lá lốt kiện tỳ bổ vị...

(SKDS) - Lá lốt còn có tên là tất bát, thuộc họ hồ tiêu (Piperaceae). Lá lốt là loại cây mọc hoang và được trồng ở khắp nơi.
Theo Đông y, lá lốt tính ôn ấm, tác dụng trừ hàn, giảm đau, mạnh tỳ vị, dùng trị đầy bụng, đau bụng, tiêu chảy, đau nhức răng, phù thũng, phong thấp, tê tay tê chân, ra nhiều mồ hôi, chân tay lạnh, cước khí; bổ tỳ hóa thấp, chống viêm, giải tán các loại phong hàn.
Một số cách dùng lá lốt làm thuốc
Trẻ bị tiêu chảy nhiều lần: lá lốt 20g, củ riềng 10g, sắc 2 thứ lấy nước đặc cho trẻ uống 2 - 3 lần liền. Mỗi lần cách nhau 60 phút.
Bàn tay, bàn chân ra nhiều mồ hôi: lá lốt 1 nắm to, đổ 4 bát nước nấu sôi. Đổ ra chậu cho nguội dần, sau đó ngâm tay, chân trong nước thuốc. Mỗi ngày ngâm 2 lần. Thực hiện liên tục cho tới khi hết các triệu chứng của bệnh.
 Toàn cây lá lốt được dùng làm thuốc.
Viêm đại tràng mạn, đau bụng, sôi bụng, phân sống, rối loạn tiêu hóa:
lá lốt 20g, củ riềng 12g, bạch truật 16g, củ đinh lăng 16g, lá khổ sâm 16g, sơn thù 16g, búp ổi 12g, cam thảo (chích) 12g. Sắc uống  ngày 1 thang, chia 3 lần.
Bị ngộ độc thức ăn: đau bụng, cuộn trong bụng, đi đại tiện nhiều lần, có trường hợp bị nôn mửa, cơ thể yếu mệt, mất nước, rối loạn điện giải, huyết áp thấp hơn bình thường:lá lốt 20g, bạch truật 16g, hạt sen 16g, hậu phác 12g, sinh khương 8g, sâm bố chính 16g, bạch biển đậu 16g, cây cứt lợn (sao vàng) 16g, rau má (sao) 20g, củ riềng 12g, cam thảo (chích) 12g, trần bì (sao) 12g. Sắc uống  ngày 1 thang, chia 3 lần.
Viêm khớp mạn tính, đau nhức trong khớp, đi lại khó khăn, co duỗi hạn chế, đau nhiều khi thời tiết thay đổi: lá lốt 20g, nam tục đoạn 20g, trinh nữ 20g, ngải diệp 16g, kê huyết đằng 16g, độc lực 20g, tang ký sinh 16g, thủ ô chế 16g, quế chi 6g, thiên niên kiện 6g. Sắc uống  ngày 1 thang, chia 3 lần.
Sâu răng, đau nhức răng: rễ lá lốt 20 - 30g, ngâm với 60ml rượu trắng. Dùng bông tẩm thuốc, chấm vào chỗ răng đau ngày 2 - 3 lần.
Bé trai bị viêm tinh hoàn: tinh hoàn sưng to, người mệt mỏi, không chịu chơi, ít vận động, hay nằm: lá lốt 12g, lệ chi 12g, bạch truật 12g, trần bì 10g, bạch linh 10g, sinh khương 21g, sơn thù 6g, phòng sâm 6g, hoàng kỳ 5g, cam thảo (chích) 4g. Đổ 600ml nước, sắc còn 200ml, chia nhiều lần cho trẻ uống trong ngày.

Lương y: Trịnh Văn Sỹ

Lưu ý độc tính của dược liệu từ động vật

Trong thuốc cổ truyền, ngoài các thảo dược còn nhiều vị thuốc có nguồn gốc từ động vật, đa phần là thuốc bổ… Tuy nhiên, khi sử dụng một số loài động vật làm thuốc cần hết sức lưu ý đến độc tính của chúng. Sau đây là những lưu ý khi dùng các dược liệu từ rắn, cóc, sâu ban miêu.
Rắn
Rắn dùng làm thuốc có nhiều loài mang độc tính lớn như rắn cạp nong (rắn mai gầm), cạp nia (mai gầm bạc), hổ mang, hoặc hổ mang chúa, đều thuộc họ rắn hổ. Có loài hầu như không có độc tính, như rắn ráo hay hổ chuối, rắn dọc dưa... Nọc độc của một số loài rắn chỉ tập trung ở hai túi nọc nằm hai bên, sát với hàm trên để giúp chúng nhanh chóng giết chết con mồi khi bắt được. Do vậy, khi sơ chế rắn để làm thuốc, để đảm bảo an toàn, nên tách bỏ 2 túi nọc độc, hoặc chặt bỏ cả phần đầu chứa túi nọc đi. Điều này là hết sức cần thiết, nhất là ngâm rắn dưới dạng bột khô. Sau khi ngâm rượu xong, có người đã lấy bã rắn để nấu cao, thậm chí ngay cả khi bã rắn đã là rác thải, đổ ra môi trường... đều là nguy cơ gây hậu họa về sau cho con người.
 Nọc rắn hổ mang rất độc, gây chết người, khi dùng làm thuốc nên chặt bỏ cả phần đầu chứa túi nọc.
Cóc
Nhiều bộ phận của cóc được dùng làm thuốc. Thịt cóc làm ruốc trị cam tích, bụng ỏng, đít vòn, còi xương, suy dinh dưỡng... ở trẻ nhỏ rất tốt. Nhựa cóc, tức mủ cóc, chứa ở các tuyến trên da và chủ yếu tập trung ở hai túi nọc phía sau đầu. Nhựa cóc sấy khô có màu hơi nâu, vị rất đắng, Đông y gọi “thiềm tô”, là một trong 6 vị của phương kinh điển “Lục thần hoàn” gồm: thiềm tô, xạ hương, trân châu, ngưu hoàng, minh hùng hoàng, băng phiến, dùng trị chứng sốt cao, co giật... nhất là ở trẻ em. Tuy nhiên, thiềm tô với liều rất thấp cũng cho độc tính lớn.
Cóc gây độc do nguyên nhân nào? Trước hết là phải kể đến trứng cóc. Trứng cóc nằm trong hai buồng trứng rất to ở bụng, và rải rác trong ống dẫn trứng xuống tận hậu môn. Trứng cóc có màu xám, nhìn giống trứng ếch. Khi đun chín, không có mùi gì đặc biệt. Vì thế nhiều người đã nhầm lẫn, tưởng có thể ăn được như trứng ếch. Khi ăn phải trứng cóc sẽ bị ngộ độc với biểu hiện: buồn nôn, nôn, sùi bọt mép, co giật và nhanh chóng dẫn đến tử vong nếu không được cấp cứu kịp thời. Chú ý, ở nhiều con cóc, hai ống dẫn trứng bị sa xuống phía chân, nằm sâu vào kẽ các bắp cơ đùi và bắp cơ cẳng chân, trong đó chứa rất nhiều trứng, nếu ăn phải thịt các con cóc đó thì vẫn bị trúng độc.
 
Nhiều người sau khi ăn thịt cóc, mặc dù đã loại trừ tất cả các nguyên nhân do trứng, nhựa cóc gây ra mà vẫn bị tiểu buốt, tiểu dắt, tiểu đau đớn; nặng hơn là viêm bàng quang cấp... Để tránh các điều đáng tiếc có thể xảy ra, tốt nhất là không nên sử dụng thịt cóc dưới dạng thực phẩm. Còn nếu dùng dưới dạng bột thì cần lưu ý loại hết các chất độc nói trên, mặt khác khi sấy cóc làm bột phải đảm bảo nhiệt độ lò sấy đạt khoảng 60 - 700C ngay từ khi bắt đầu sấy để tránh thịt cóc bị ôi thiu.
Bọ cạp
Còn gọi là toàn trùng, toàn yết. Bọ cạp chứa nọc độc là katsutoxin. Theo Đông y, bọ cạp vị mặn, hơi cay, tính bình, có độc. Tác dụng khu phong, trấn kinh, dùng trị kinh giản, uốn ván, trúng phong gây méo miệng, mắt xếch... Do có độc, khi chế biến cần hết sức thận trọng. Trước hết, đem bọ cạp ướp với muối ăn, khi dùng rửa sạch muối, ngắt bỏ chân, bỏ đầu, rút ruột, sao vàng. Vì có độc tính nên liều dùng rất thấp: nếu là thuốc sắc ngày 3 - 5g, chia 2 - 3 lần uống; thuốc bột, ngày 3g, chia 5 - 6 lần uống.
Sâu ban miêu (sâu đậu)
Còn gọi là manh trùng, ban manh, gồm nhiều thứ sâu có cánh cứng, có kích thước nhỏ, chiều dài thân chỉ khoảng 15 - 20mm, có 11 đốt, đầu hình tim, có rãnh dọc ở giữa, râu đen hình sợi. Phía trên 2 cánh màu đen có các chấm màu vàng hoặc màu đỏ nhạt, hoặc đôi khi thân màu vàng với các điểm hay các dải ngang màu đen. Sâu ban miêu thường sống trên các cây đậu, hoặc trên các cây độc khác như cây cà độc dược. Sau khi bắt được sâu, nhúng vào nước sôi cho sâu chết, để ráo nước, phơi khô, ngắt bỏ cánh, bỏ đầu, rút ruột, sao khô, bảo quản trong các lọ thủy tinh, đậy kín. Do có độc tính lớn (bảng A) nên đã có những khuyến cáo không nên  sử dụng sâu ban miêu để uống mà chỉ dùng ngoài với mục đích gây rộp da để gây mụn dẫn độc hay làm thuốc tụ bệnh bên ngoài.  

   GS.TS.Phạm Xuân Sinh

 
Design by Free WordPress Themes | Bloggerized by Lasantha - Premium Blogger Themes | Laundry Detergent Coupons