
This is featured post 1 title
Replace these every slider sentences with your featured post descriptions.Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these with your own descriptions.
This is featured post 2 title
Replace these every slider sentences with your featured post descriptions.Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these with your own descriptions.
This is featured post 3 title
Replace these every slider sentences with your featured post descriptions.Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these with your own descriptions.
Thứ Năm, 14 tháng 5, 2015
Cá chép chủ trị phù thũng
Cá chép là loại cá nước ngọt giàu dinh dưỡng và thơm ngon, rất quen thuộc trong ẩm thực của người Việt. Không chỉ là món ăn ngon, cá chép còn có nhiều tác dụng quý với sức khỏe. Thịt cá có nhiều protid, lipid (có 0,3% là axit béo omega -3); nhiều khoáng chất và vitamin. Vây cá chứa nhiều collagen. Mật có sắc tố mật, axit mật và các sterol. Người ta thường dùng thịt cá, vây cá và mật cá làm thuốc.

Thịt cá chép có vị ngọt, tính bình; vào tỳ thận. Có tác dụng lợi thủy tiêu thũng, hạ khí thông nhũ. Dùng cho các trường hợp phù thũng bụng phù trướng, hai chân phù nề, vàng da, ứ tắc sữa... Vảy cá có tính bình, tác dụng cầm máu. Mật cá có vị đắng tính lạnh, không độc, có tác dụng thông ứ, minh mục. Hằng ngày dùng 1 con (500 - 1.000g) bằng cách nấu hầm, chiên, nướng.
Cá chép nấu cơm rượu: cá chép 1 con, rượu cái 1.500g đổ trên cá đặt sẵn trong nồi đun nhỏ lửa cho sôi, chín cá và cạn hết nước rượu. Không cho thêm dấm, muối, đậu, ăn nóng. Dùng cho người bị phù nề toàn thân.
Canh cá chép, vừng: cá chép (lấy phần nạc) 120g, hành một nắm, vừng rang giòn tán mịn. Cá chép, hành đem nấu canh, canh chín cho tiếp vừng, bột tiêu, gia vị, ăn khi đói. Món này dùng cho người cao tuổi bị phù do suy dinh dưỡng.
Canh cá chép, bí đao: cá chép 500g rửa sạch, để nguyên vẩy, bỏ ruột, bí đao 500g gọt vỏ bỏ ruột, thái lát, hành củ cả lá 6 củ, thêm dầu, muối, đổ nước nấu nhỏ lửa cho chín (nếu viêm thận phù nề giảm muối), thêm gia vị, ăn ngày 2 - 3 lần trong bữa phụ. Món này tốt cho bệnh nhân phù suy dinh dưỡng, phù do bệnh thận, tim.
Canh cá chép, xuyên tiêu: cá chép 1.000g, xuyên tiêu 15g, rau mùi, lá lốt, gừng, hành, dấm bỗng và gia vị thích hợp. Nấu ăn như nấu canh cá bình thường. Dùng cho các trường hợp phù nề, đặc biệt là các thể phù do thiểu dưỡng, do viêm cầu thận mạn, hội chứng thận hư.
Cá chép hầm đậu đỏ: cá chép 1 con làm sạch, đậu đỏ nhỏ hạt 50g, trần bì 6g, ớt đỏ 6g, thảo quả 6g; Tất cả được cho trong bụng cá, đặt trong nồi áp suất cho thêm gừng, hành, muối, tiêu và đổ nước nấu hầm trong khoảng 1 giờ, cho thêm hành thái lát, rau tươi tùy ý, đun sôi, thêm nước dùng, gia vị, cho ăn khi còn nóng. Món này tốt cho người bị phù nề vàng da, tiểu dắt, buốt, đáo tháo đường.
Hoặc: cá chép 1 con (chủ yếu lấy phần nạc), đậu đỏ nhỏ hạt 100g. Hai vị hầm chín nhuyễn lấy nước uống. Dùng cho người bị phù nề toàn thân.
Gỏi cá chép: cá chép 1 con thái lát làm gỏi cá; ăn với gừng dấm. Dùng cho người bị ho suyễn, khó thở.
Canh cá chép bối mẫu: cá chép 250g, xuyên bối mẫu tán mịn 6g, đem nấu canh, cho ăn liên tục 1 - 3 tuần. Dùng cho bệnh nhân ho gà, hen suyễn.
Cháo não cá chép: 30 - 60g não cá chép (mổ đầu cá lấy não), gạo tẻ 60g cùng đem nấu cháo, thêm gia vị cho ăn khi đói. Món này tốt cho người cao tuổi ù tai, điếc tai.
Kiêng kỵ: Không dùng cho người có biểu hiện hôn mê gan, tăng urê huyết.
TS. Nguyễn Đức Quang
Quả dâu nhuận táo
Theo y học cổ truyền, quả dâu chín phơi hay sấy khô (gọi là tang thầm) có công hiệu bổ âm huyết, sinh tân dịch, nhuận táo. Dùng cho các trường hợp can thận âm hư, đau đầu, hoa mắt, chóng mặt, ù tai, điếc tai, bệnh đái tháo đường, tiểu khó, táo bón, râu tóc bạc sớm, đau sưng khớp, đau lưng mỏi gối, hồi hộp mất ngủ, lao hạch, đau mỏi khớp.
Quả dâu ta hay còn gọi là quả dâu tằm là loại quả của cây dâu trồng để lấy lá cho tằm ăn, ở một số địa phương bà con dân tộc thường gọi là mạy môn, người Mông gọi là dâu cang; tầm tang… là loại cây mọc tự nhiên hoặc trồng ở nhiều nơi. Ngày nay, nhiều loại cây dâu giống mới trồng nuôi tằm là loại cây nhiều lá, lá to quả ít và nhỏ, vị chua. Loại dâu ta giống cũ, trồng lâu năm thì quả nhiều, to, đỏ, tím mọng, ngọt. Do vậy, nếu lấy quả làm thuốc và nước uống thì dâu ta giống cũ thường được sử dụng nhiều hơn. Quả dâu gọi là tang thầm tử.
Nhân dân thường sử dụng quả dâu làm nước uống, ngâm rượu như: nước ép dâu, cao dâu, dâu ủ men, dâu hấp, mứt dâu, bột dâu, dâu xào thịt… rất tốt. Ngoài ra, Đông y còn sử dụng quả dâu để chữa bệnh.
Một số bài thuốc thường dùng
Bài 1: Chữa mất ngủ: Quả dâu tươi 60g (khô 30g), đổ nước sắc uống 2 lần/ngày vào chiều tối và trước khi đi ngủ. Nếu mất ngủ đã lâu thì cần thêm các vị thuốc khác: thục địa 15g, bạch thược 15g, tất cả cho vào ấm đổ 550ml, sắc còn 300ml, chia 2 lần uống trong ngày, 30 ngày 1 liệu trình.
Bài 2: Chữa chứng ăn không tiêu: Quả dâu 10g, bạch truật 6g, cho vào ấm đổ 450ml nước, sắc còn 250ml nước, chia 2 lần uống sau ăn. Uống liền 3 ngày.
Bài 3: Chữa nhức mỏi cơ xương, khớp, đau lưng gối: Dâu chín 40g, gạo tẻ 50g, đường phèn vừa đủ. Gạo ninh nhừ, dâu đánh nhuyễn cho vào cháo, đun sôi thêm đường. Ăn buổi sáng (khi chưa ăn gì, bụng còn đói), rất tốt với trẻ em, người cao tuổi, yếu, ốm dậy.
Bài 4: Tác dụng đen, mượt tóc: Quả dâu tươi chín 50g, đường phèn vừa đủ: Cách chế biến: Quả dâu rửa sạch, cho vào nồi đất, đổ nước vừa đủ, sắc lấy nước, hòa đường phèn để uống. Có thể uống thường xuyên, nhất là về mùa hè.
Hoặc quả dâu, sinh địa, mỗi thứ 30g, đường trắng 15g. Tất cả giã nát, cho vào ấm đổ 550ml sắc còn 400ml, chia 2 lần uống trong ngày. 15 ngày 1 liệu trình rất tốt cho người tóc khô và gãy.
Bài 5: Chữa hậu sản do âm huyết kém: Quả dâu, long nhãn, đẳng sâm sao vàng, mỗi thứ 30g, nghiền nát 3 thứ. Uống mỗi lần 2 - 3g với nước đun sôi để nguội, ngày 3 lần. 5 ngày 1 liệu trình.
Bài 6: Chữa mồ hôi trộm: Quả dâu, ngũ vị tử mỗi loại 10g, cho vào ấm đổ 500ml nước sắc còn 250ml, chia 2 lần, uống trong ngày. 10 ngày 1 liệu trình.
Bài 7: Bổ can thận, ích tâm huyết (thính tai, sáng mắt,…): Quả dâu tươi, chín 500g, gạo nếp 600g. Men rượu vừa đủ. Cách chế biến: Quả dâu phải chín đều, ép lấy nước, đun sôi để nguội, cho cơm nếp, men rượu, trộn đều cho vào bình ngâm 1 tuần, ngày lắc 1 lần cho đều. Sau đó mỗi ngày uống 30 ml/ngày, vào 2 bữa cơm.
Kiêng kỵ: Những người thuộc chứng hàn hạn chế dùng.
Lương y Hữu Đức
Thịt hến thanh nhiệt, giải độc
Không chỉ là thực phẩm thông dụng, những món ăn từ thịt hến còn có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, giải khát, trừ phiền nhiệt, lợi tiểu,… thích hợp dùng cho người bệnh tăng huyết áp, tim mạch, bí đại tiểu tiện, hay bị mụn nhọt…
Trong y học cổ truyền, thịt hến có tên gọi là nghiễn nhục, có vị ngọt mặn, tính hàn, không độc; có tác dụng hoạt tràng, thông khí, mát gan, thanh nhiệt giải độc, lợi tiểu, được sử dụng dưới dạng món ăn - bài thuốc như sau:
Chữa chứng mồ hôi trộm ở trẻ em: Thịt hến 100g, sò biển 100g, gạo tẻ 50g, rễ hẹ 3g, gia vị vừa đủ. Thịt hến, sò hấp cách thủy, băm nhỏ, ướp gia vị; rễ hẹ giã nhỏ; gạo nấu thành cháo. Khi cháo chín, cho sò hến và hẹ vào đun chín. Ăn 1 ngày 1 lần. Dùng 5 - 7 ngày.

Thịt hến nấu với rau ngót dùng rất tốt cho người hay bị mụn nhọt, táo bón, tiểu tiện khó.
Chứng hay đi tiểu đêm: Thịt hến 50g, thịt lợn nạc 100g. Tất cả ninh nhừ, thêm gia vị vừa đủ. Ăn trong ngày. Có thể dùng thường xuyên.
Hỗ trợ điều trị dương nuy, ít tinh: Thịt hến 300g, lá hẹ 100g, dầu ăn 50ml, gia vị vừa đủ. Lá hẹ rửa sạch thái khúc. Đổ dầu vào chảo, đun nóng, cho hến vào thêm gia vị, xào cho săn, cho lá hẹ vào, đảo đều với hến khoảng 5 phút, bắc ra ăn nóng. Có thể dùng thường xuyên.
Bồi bổ sức khỏe, thanh nhiệt, giải khát, trừ phiền: Hến 2kg, bầu 1 quả non. Mỡ, mắm, muối, hành, thì là, gia vị vừa đủ. Luộc hến gạn lấy nước, đãi lấy thịt để riêng. Bầu gọt vỏ băm nhỏ hoặc thái miếng. Đun sôi nước luộc hến thả bầu vào nấu chín, thêm ít hành, thì là. Đun sôi mỡ, phi thơm hành rồi cho thịt hến và gia vị vừa đủ, đảo đều đến khi thịt hến săn lại. Cho thịt hến vào canh bầu hoặc để riêng ăn.
Hỗ trợ điều trị tăng huyết áp: Hến 1kg, lá dâu bánh tẻ 30 - 50g, hành hoa, gia vị vừa đủ. Hến rửa sạch luộc đãi lấy ruột, nước để lắng gạn lấy phần nước trong bên trên. Lá dâu rửa sạch để ráo, thái sợi. Phi thơm hành mỡ cho hến vào xào săn, tiếp đó cho lá dâu vào xào chín, cho thêm ít nước hến, nêm gia vị vừa đủ, múc ra bát rắc rau răm, hành hoa lên ăn nóng. Có thể dùng thường xuyên. Công dụng: bổ âm, hạ áp, an thần, lợi tim mạch, nhuận gan mật, lợi tiểu,… dùng tốt cho người bệnh tăng huyết áp, tim mạch, bí đại tiểu tiện,…
Bổ huyết, giải nhiệt, giải độc, nhuận trường: Hến 1kg, rau ngót 200g. Cách làm: Hến rửa sạch, luộc chín, đãi lấy thịt hến, để ráo nước, lọc lấy nước trong; rau ngót, tuốt lá, rửa sạch, vò sơ cho mềm. Đun sôi nước luộc hến và cho thịt hến vào, nêm nước mắm vừa ăn rồi cho rau ngót vào, đun sôi lại là được. Món ăn này có tác dụng thanh nhiệt, bổ huyết, giải nhiệt, giải độc, nhuận trường, thông tiểu, dùng rất tốt cho người bị nhiệt độc thường sinh mụn nhọt, táo bón, tiểu tiện khó,…
Bác sĩ Thúy Hường
Hạ huyết áp bằng câu đằng
Câu đằng là thân cành non mang gai móc câu phơi khô của cây câu đằng, có tác dụng trấn kinh, giãn mạch, hạ huyết áp.
Câu đằng vị ngọt, tính hàn; vào kinh can và tâm bào, câu đằng có tác dụng thanh nhiệt, bình can tức phong, chỉ kinh. Dùng cho các trường hợp sốt cao co giật, đau đầu ù tai, hoa mắt chóng mặt, đau mắt đỏ, thiên đầu thống, tăng huyết áp, viêm gan cấp tính... Liều dùng: 12 - 24g. Không sắc hãm lâu. Dưới đây là một số tác dụng trị bệnh của câu đằng.


Cây và vị thuốc câu đằng.
Trị sốt cao, co giật:
Chè thuốc câu đằng: câu đằng 16g, thiên ma 12g, tê giác 4g, cam thảo 4g, bọ cạp 6g, mộc hương 3g. Sắc uống ngày 1 thang.
Câu đằng 20-30g, thạch cao 8-30g, bạch phụ tử 12-20g, xác ve sầu 4-8g, bọ cạp 12-20g, rết 5 con, hoàng cầm 12g, lá dâu 20g, thiên nam tinh 8g. Sắc uống ngày 1 thang.
Câu đằng, xuyên khung, đương quy mỗi vị 3g; sài hồ, cam thảo mỗi vị 2g; bạch truật, phục linh mỗi vị 4g. Các vị tán bột, chia uống 4 lần trong ngày. Bài này dùng cho trẻ nhỏ sốt cao co giật, sốt nóng sốt rét, đau quặn bụng gồng cứng, nghiến răng cắn chặt miệng, bụng trướng nôn mửa.
Trị đau đầu, vật vã do can bốc lên và đau đầu do tăng huyết áp:
Câu đằng 16g; kim ngân hoa, cúc hoa, giun đất mỗi vị 2g; bạc hà 6g. Sắc uống ngày 1 thang.
Câu đằng, lá dâu, cúc hoa mỗi vị 12g; hạ khô thảo 20g. Sắc uống ngày 1 thang.
Trị đau váng đầu do phong nhiệt: câu đằng, cúc hoa, trần bì mỗi vị 12g; thạch cao 20g; mạch môn 8g; cam thảo 4g. Sắc uống ngày 1 thang.
Một số món ăn thuốc có câu đằng:
Thiên ma câu đằng ẩm: thiên ma 10g, câu đằng 15g, thảo quyết minh 30g. Sắc lấy nước, cho thêm 15g đường phèn khuấy đều chia 2 lần uống trong ngày. Món này tốt cho người bị chứng huyễn vựng (hội chứng tiền đình ốc tai), bệnh thoái hóa đốt sống cổ liên quan đến bệnh tăng huyết áp, thiểu năng động mạch đốt sống thân nền, vữa xơ động mạch não, thiếu máu, trẻ con sốt cao co giật.
Thiên ma câu đằng chi tử ẩm: thiên ma 10g, câu đằng 30g, chi tử 6g. Sắc lấy nước, cho thêm 15g đường phèn khuấy đều, chia 2 lần uống trong ngày. Món này tốt cho người bệnh tai biến mạch máu não gây liệt nửa người, nói khó, đau đầu chóng mặt, rối loạn xúc cảm, cáu gắt giận dỗi (trúng phong kinh lạc).
Câu đằng đản hoàng thang: câu đằng 6g, thạch quyết minh 15g, sinh địa 12g, cam thảo sao 2g, phục thần 12g, mẫu lệ sống 12g, a giao 6g, trứng gà 2 quả. Sắc các vị thuốc trong 1 giờ lấy nước gạn bỏ bã; cho a giao nướng vào khuấy cho tan, tiếp tục đập trứng gà vào và đun sôi đều, để nguội ăn. Món này thích hợp cho người mắc rối loạn xúc cảm kích ứng trầm uất, liên quan các rối loạn cơ năng tử cung buồng trứng ở phụ nữ.
Kiêng kỵ: Người không có phong nhiệt và thực nhiệt cấm uống.
BS. Tiểu Lan
Tác dụng chữa bệnh của ngũ gia bì
Ngũ gia bì còn gọi là xuyên gia bì, thích gia bì (ngũ gia bì gai).
Tên khoa học Acamthoppanax aculeatus Seem. Acanthopanax aculeatum Hook. Acanthopanax trifoliatus (L). Merr.
Thuộc họ Ngũ gia bì Araliaceae.
Ngũ gia bì (Cortex Acanthopanacis), là vỏ rễ phơi khô của cây ngũ gia bì. Vì lá có 5 lá chét to chụm vào với nhau và chỉ dùng vỏ rễ làm thuốc do đó có tên như vậy. Ngoài vị trên ra, tên ngũ gia bì còn chỉ nhiều vị khác nhau. Cần chú ý tránh nhầm lẫn.
Mô tả cây
Ngũ gia bì là cây nhỏ, rất nhiều gai, cao chừng 2 - 3m. Lá mọc so le, kép chân vịt có từ 3 - 5 lá chét, phiến lá chét có hình bầu dục hay hơi thuôn dài, phía cuống hơi thót lại, đầu nhọn mỏng, mép có răng cưa to, cuống lá dài từ 4 - 7cm. Hoa mọc khác gốc, thành hình tán ở đầu cành. Đầu mùa hạ ra hoa nhỏ màu vàng, xanh. Quả mọng, hình cầu, đường kính chừng 2,5mm, khi chín có màu đen.
Phân bố, thu hái và chế biến
Ngũ gia bì mọc hoang ở nhiều tỉnh miền Bắc nước ta, hay gặp nhất là ở Lạng Sơn, Cao Bằng, Sapa (Lào Cai), Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Bắc Cạn, Thái Nguyên, Hòa Bình, Hà Tây, Tuyên Quang. Có mọc ở Trung Quốc (Quảng Châu, Tứ Xuyên).
Thường đào cây vào mùa hạ hay mùa thu, lấy rễ, bỏ gỗ, lấy vỏ, phơi khô là được. Khi dùng để sống hoặc sao vàng sắc uống.
Vị thuốc thường là những cuộn ống nhỏ, dài ngắn không đều, dày chừng 1mm, vỏ ngoài màu vàng nhạt, mặt trong màu xám trắng, dai, mặt phồng có những điểm vàng nâu. Mùi không rõ.
Công dụng và liều dùng
Đông y coi ngũ gia bì là một vị thuốc có tác dụng mạnh gân cốt, khu phong hóa thấp chủ trị đau bụng, yếu chân, trẻ con chưa biết đi, con trai âm suy (dương sự bất cử, con gái ngứa âm hộ, đau lưng, tê chân, làm mạnh gân cốt, tăng trí nhớ ngâm rượu uống rất tốt. Theo tài liệu cổ, ngũ gia bì vị cay, tính ôn vào 2 kinh can và thận.
Ngày dùng 6 -12g dưới dạng thuốc sắc hay ngâm rượu.
Đơn thuốc có ngũ gia bì:
Rượu ngũ gia bì:
Ngũ gia bì sao vàng 100g, rượu 1 lít. Ngâm trong 10 ngày thỉnh thoảng lắc đều. Ngày uống 1 cốc con vào buổi tối trước bữa cơm chiều, chữa đau người, đau lưng, đau xương.
Đơn thuốc dùng cho phụ nữ:
Ngũ gia bì, mẫu đơn bì, xích thược, đương quy mỗi vị 40g. Tán nhỏ. Ngày uống hai lần, mỗi lần 4g chữa những phụ nữ bị lao lực, bị mệt mỏi, hơi thở ngắn, sốt ra nhiều mồ hôi, không muốn ăn uống.
Chú thích: Tên ngũ gia bì còn dùng để chỉ nhiều vị thuốc khác nhau, cần chú ý để tránh nhầm lẫn.
(Theo Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam)
GS. ĐỖ TẤT LỢI
Thịt rắn biển chữa đau cột sống
Hải xà nhục là tên thuốc của thịt rắn biển - một thực phẩm bổ dưỡng và vị thuốc tốt của nhân dân vùng biển. Rắn biển có rất nhiều loài nhưng chỉ có vài loài được dùng làm thuốc phổ biến như rắn khoang, rắn vết và rắn cơm.

Rắn biển.
Người ta đánh bắt rắn biển cùng với việc đánh cá vào tháng 4-9 hàng năm. Bắt rắn về rửa sạch, buộc đầu rồi treo lên hoặc ghim đầu vào một tấm ván, cầm đuôi kéo căng mình rắn, lấy dao sắc rạch một đường từ cổ họng xuống đến tận đuôi. Bỏ phủ tạng và chỉ giữ lại mật và lớp mỡ. Rửa sạch máu ở mình rắn bằng cồn 90 độ (không rửa nước) rồi phơi hoặc sấy khô. Nếu muốn lấy tiết thì trước khi buộc hoặc ghim rắn, cầm đầu rắn, cứa đứt động mạch cổ cho máu chảy ra, hứng lấy để riêng.
Về mặt y học, thịt rắn biển - hải xà nhục, có vị mặn, mùi tanh, tính ẩm, có tác dụng chống viêm, giảm đau rõ rệt, đặc trị viêm đa khớp dạng thấp, thoái hóa và đau cột sống, viêm thần kinh tọa. Dùng dạng rượu ngâm riêng từng loại hoặc hỗn hợp 3 loại: rắn khoanh, rắn vết và rắn cơm với tỷ lệ một phần thịt rắn với 3 phần rượu 40 độ, ngâm trong 15-20 ngày, càng lâu càng tốt.Có nơi người ta còn chôn cả bình rượu rắn xuống đất để hàng năm mới dùng. Mỗi ngày uống 20ml sau bữa ăn chiều. Hoặc nấu thịt rắn lẫn xương với 3 lần nước rồi cô thành cao mềm (cao toàn tính). Ngày uống 5-10g hòa với rượu hâm nóng và ít mật ong. Cũng có thể lấy thịt và xương rắn biển sấy khô, tán bột, rây mịn, rồi làm thành viên mà uống; Tác dụng giảm đau nhanh, giúp bệnh nhân ăn ngủ tốt, tăng cân.
Ngoài ra, mật rắn biển (hải xà đởm) và tiết rắn biển (hải xà huyết) cũng có tác dụng chống viêm, giảm đau, an thần, gây ngủ.
DS. Huyền Hoa
Thuốc hay từ hoa hòe
Theo Đông y, cây hoa hòe vừa là cây cảnh, vừa là cây làm thuốc rất phổ biến ở nước ta. Hoa hòe có tính thanh nhiệt, cầm máu và an thần nhẹ. Trong hoa hòe có chất rutin làm bền vững thành mạch máu, vì thế nó là vị thuốc rất thường dùng để trị tăng huyết áp. Ngoài ra, hoa hòe còn trị nhiều bệnh như đau mắt, đại tiện ra máu, đau họng. Sau đây là 10 bài thuốc trị bệnh có dùng vị hoa hòe.

Hòe hoa vừa là cây cảnh vừa là vị thuốc hay.
Trị trĩ hay chảy máu ở hậu môn: hoa hòe (sao vàng), huyền sâm, cỏ mực, tam thất, huyết dụ mỗi vị 16g; nhân trần, hoàng kỳ mỗi vị 12g; cam thảo 10g. Sắc uống ngày 1 thang.
Trị táo bón kéo dài: hoa hòe (sao), mạch môn, kim ngân mỗi vị 16g; sinh địa, sơn tra mỗi vị 12g; chỉ xác 8g; trần bì, mộc thông mỗi vị 10g. Sắc uống ngày 1 thang.
Trị lên bắp chuối gây sốt, đau nhức: hoa hòe (sao), đinh lăng, bồ công anh, thổ phục linh mỗi vị 20g; kinh giới, thạch xương bồ, ngưu tất mỗi vị 16g; mộc thông 10g. Sắc uống ngày 1 thang.
Trị kiết lỵ, đau bụng từng cơn, phân có lẫn máu mũi: hoa hòe (sao đen), hoàng liên, khổ sâm mỗi vị 10g; cỏ mực 16g; rau má 20g. Sắc uống ngày một thang. Người bệnh cần kiêng thức ăn tanh, gia vị cay nóng như ớt...
Trị tăng huyết áp: hoa hòe, cỏ xước, đinh lăng, dừa cạn, cam thảo mỗi vị 100g. Các vị sao giòn, tán vụn trộn đều, bảo quản trong bình kín. Ngày uống 30 - 40g, hãm với nước sôi sau 10 phút là dùng được, uống thay trà hằng ngày. Công dụng: an thần, lợi tiểu, êm dịu thần kinh, bảo vệ thành mạch, ngăn ngừa tai biến mạch máu não.
Trị chảy máu chân răng: hoa hòe (sao kỹ), kim ngân hoa mỗi vị 10g; rễ cỏ tranh, hoài sơn, mạch môn mỗi vị 16g. Sắc uống ngày 1 thang, uống 7 ngày liền.
Trị đau nhức hai hốc mắt: hoa hòe (sao vàng), cúc hoa, đan bì, chi tử, cam thảo mỗi vị 10g; hạ khô thảo 16g. Sắc uống ngày 1 thang.
Trị viêm họng đau họng, hơi thở nóng, khàn tiếng: hoa hòe, hoàng cầm mỗi vị 12g; mã đề thảo, rễ cỏ tranh, cát căn mỗi vị 16g; kim ngân hoa, cam thảo mỗi vị 10g; đậu đen (sao) 24g. Sắc uống ngày 1 thang.
Trị vàng da, vàng mắt, đau tức hông sườn, tiểu tiện đỏ, táo bón: hoa hòe 12g; đan bì 8g; chi tử, nhân trần, củ đợi, cam thảo mỗi vị 10g; nam hoàng bá, kim ngân hoa, hạ khô thảo mỗi vị 16g. Sắc uống ngày 1 thang.
Trị nhọt hậu bối, sưng nóng đau nhức: hoa hòe (sao vàng) 40g; đinh lăng 16g; ích mẫu, kê huyết đằng, bồ công anh mỗi vị 20g. Sắc uống ngày 1 thang. Công dụng: hoạt huyết, chống viêm tiêu độc, thanh nhiệt.
Lương y Thanh Ngọc


Thứ Năm, tháng 5 14, 2015
doanh nhan